- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Xuân T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan (điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Xuân T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 267 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2019/HSPT Ngày 20 tháng 3 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tài;
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Tuân;
Ông Đặng Văn Hưng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký
Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Phạm Văn Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên,
Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2019/TLPT-HS ngày 09/01/2019 đối với bị cáo Tạ Xuân T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo có kháng cáo:
Tạ Xuân T, sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã
N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Tạ Cao V và bà Mai Thị L; chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Tạ Xuân T: Bà Phạm Thị T - Trợ giúp viên
pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bài bào chữa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Bản án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2017, Tạ Xuân T tìm hiểu trên mạng xã hội và quen biết
một người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ) để trao đổi việc mua bán “Giấy ra viện” của Bệnh viện A với giá tiền 120.000 đồng/01 giấy. Sau đó, T truy cập vào tài khoản Facebook của mình tên “Bằng lái xe T” để đăng tải rao bán “Giấy ra viện” trên mạng xã hội, kèm theo số điện thoại do T sử dụng 0949844296 để ai có nhu cầu thì liên hệ. Khoảng tháng 8/2017 và tháng 12/2017, Lê Thị G và Lưu Quốc C là công nhân Công ty V đã liên hệ với T để đặt vấn đề mua “Giấy ra viện”. T, G, C thỏa thuận giá mua bán và địa điểm giao nhận. Sau đó, T gặp người đàn ông nêu trên tại khu vực đường P, quận B, Hà Nội để mua hai lần 08 “Giấy ra viện” của Bệnh viện A (chỉ đóng dấu, chưa có thông tin và nội dung khám, chữa bệnh) với tổng số tiền là 960.000 đồng. Sau khi mua được “Giấy ra viện”, T đã bán cho G 04 giấy với số tiền là 800.000 đồng tại cổng Công ty V và bán cho C 04 giấy với số tiền là 600.000 đồng tại khu vực cầu P thuộc huyện G, Hà Nội. Ngoài ra, T còn mua của người đàn ông trên 01 “Giấy khám sức khỏe” của “BỆNH VIỆN NAM THĂNG LONG - CỤC Y TẾ GIAO THÔNG VẬN TẢI - BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI” với giá 100.000 đồng nhưng chưa bán được thì bị phát hiện thu giữ. Quá trình điều tra, T khai được hưởng lợi bất chính số tiền 440.000 đồng và đã nộp lại toàn bộ số tiền trên.
Tại Bản kết luận giám định số 184/PC54 ngày 13/7/2018 và số 345/PC09
ngày 27/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận:
1. Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN E” trên 08
“Giấy ra viện” ghi tên: H1, Tr, H, C, M, P, H2 được thể hiện bằng phương pháp đóng dấu.
2. Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN E” trên “Giấy
ra viện” ghi tên L được thể hiện bằng phương pháp photocopy màu.
3. Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN E” trên 08
“Giấy ra viện” ghi tên: H1, Tr, H, C, M, P, H2 so với hình dấu có cùng nội dung do Bệnh viện A cung cấp không phải là do cùng một con dấu đóng ra.
4. Chữ ký dưới mục “Phó Giám đốc Bệnh viện” trên 09 “Giấy ra viện”
nêu trên được tạo ra bằng phương pháp đóng dấu.
5. Chữ viết, chữ số tại các mục: Khoa...; Họ tên người bệnh...; Tuổi...; Dân
tộc...; Nghề nghiệp...; BHYT giá trị từ...; số:...; Địa chỉ...; Vào viện lúc...; Ra viện lúc...; Chẩn đoán...; Phương pháp điều trị...; Ngày/ tháng/ năm...
- Trên Giấy ra viện ghi tên: Nguyễn Khải H2 với chữ viết của Nguyễn Khải
H2 không phải là do cùng một người viết ra.
- Trên Giấy ra viện ghi tên: Nguyễn Văn Tr là do anh Tr viết ra.
- Trên Giấy ra viện ghi tên: Nguyễn Ngọc H1 là do anh H1 viết ra.
- Trên các Giấy ra viện ghi tên: Lưu Quốc C, Đặng Nhật M, Nguyễn Thị
Mai P, Nguyễn Khánh H3 là Lê Thị G viết ra.
- Trên Giấy ra viện ghi tên: Lương Thị L là do L viết ra.
6. Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “BỆNH VIỆN NAM THĂNG LONG -
CỤC Y TẾ GIAO THÔNG VẬN TẢI - BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI” trên “Giấy khám sức khỏe” so với hình dấu có cùng nội dung do Bệnh viện N cung cấp không phải là do cùng một con dấu đóng ra.
7. Chữ ký dưới mục “Người kết luận” trên “Giấy khám sức khỏe” so với
chữ ký mang tên ông Đào Đức T không phải do một người ký ra.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Bệnh viện A - Bộ Y tế xác định:
Bệnh viện A không khám chữa bệnh cho Nguyễn Khánh H3, Đặng Nhật M, Lưu Quốc C, Lương Thị L, Nguyễn Thị Mai P, Nguyễn Khải H2, Nguyễn Ngọc H1, Nguyễn Văn Tr; 09 Giấy ra viện nêu trên không phải do Bệnh viện A cấp. Bệnh viện A không có bác sĩ Phan Thị T, Phạm Thị B, từ tháng 9/2016 Phó Giám đốc Bệnh viện Nguyễn Thúy V đã chuyển công tác sang đơn vị khác.
Xác minh tại Bệnh viện N - Cục Y tế giao thông vận tải xác định: Bệnh
viện N không có các bác sĩ: Vũ Thị H, Cao Văn Đ, Khuất Văn D, Đàm Văn M, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Tiến B và Lê Thanh T. Đối với bác sĩ Đào Đức T - Nguyên Giám đốc Bệnh viện N đã nghỉ chế độ hưu trí từ ngày 01/10/2016.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2018/HSST ngày 30/11/2018, Toà án
nhân dân tỉnh Hưng Yên đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; xử phạt Tạ Xuân T 09 (chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/10/2018.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối
với các bị cáo Lê Thị G, Lưu Quốc C, quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/12/2018, Tạ Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Tạ Xuân T vẫn giữ nguyên nội
dung kháng cáo và trình bày, trước khi bị bắt bị cáo là sinh viên năm thứ 4 Trường Đại học M, sau khi vụ án bị phát hiện, bị cáo có đơn đề nghị xin bảo lưu kết quả học tập và được Hiệu trưởng Nhà trường cho phép nghỉ học 01 kỳ năm học 2018 - 2019 nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo tiếp tục có cơ hội được học tập tại trường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tóm tắt nội dung vụ
án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo và có quan điểm như sau: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Tạ Xuân T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo có nhân thân tốt, là sinh viên Đại học (hiện nay đang được Hiệu trưởng Trường Đại học M cho phép nghỉ học tạm thời học kỳ II năm 2018 - 2019); phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo; tự nguyện nộp khoản tiền thu lợi bất chính; bị cáo là người khuyết tật, đang được hưởng chế độ hàng tháng; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt (có xác nhận của chính quyền địa phương); có ông Nội là thương binh. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tạ Xuân T để bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập.
Luận cứ bào chữa cho bị cáo (do Trợ giúp viên pháp lý Phạm Thị T gửi
cho Tòa án), trình bày: bị cáo Tạ Xuân T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện nay đang là sinh viên Đại học nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết
quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và lời trình bày của bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Lời khai nhận tội của bị cáo Tạ Xuân T tại phiên tòa hoàn toàn phù
hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo Lê Thị G, Lưu Quốc C, phù hợp với các Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017, Tạ Xuân T đã mua của đối tượng không rõ tên, tuổi, địa chỉ 08 “Giấy ra viện” có đóng dấu, ký tên của bác sỹ Bệnh viện A và 01 “Giấy khám sức khỏe” có ký tên, đóng dấu của bác sỹ Bệnh viện N, rồi bán lại cho Lê Thị G và Lưu Quốc C mỗi người 04 “Giấy ra viện” hưởng lợi số tiền 440.000 đồng, còn 01 “Giấy khám sức khỏe” T chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Tạ Xuân T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm đến hoạt động của cơ quan Nhà nước. Vì vậy, việc phải xét xử và áp dụng một mức án phù hợp đối với bị cáo theo quy định của pháp luật là hoàn toàn cần thiết, không những để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng mà còn răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, trước khi xử phạt bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tạ Xuân T, Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy: Đây là vụ án đồng phạm đơn giản, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo có nhân thân tốt, trước khi bị bắt bị cáo là Sinh viên (đang được Hiệu trưởng Trường Đại học M cho phép nghỉ học tạm thời học kỳ II năm học 2018 - 2019 theo Quyết định số 4477/QĐ-MĐC ngày 24/12/2018); bị cáo lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện nộp khoản tiền thu lợi bất chính, bản thân bị cáo là người bị dị tật (mắt phải bị lác trong, mắt trái đục thủy tinh thể, đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng), gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt (có xác nhận của chính quyền địa phương), có ông Nội là thương binh; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tạ Xuân T khi lượng hình.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Tạ Xuân T được chấp nhận nên bị
cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Xuân T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm
về hình phạt đối với bị cáo Tạ Xuân T.
* Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt: Tạ Xuân T 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[2] Về án phí: Bị cáo Tạ Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cục THA dân sự tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo Tạ Xuân T (qua TTG); - Lưu hồ sơ vụ án, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Anh Tài |