vanban.org

Bản án 137/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Đức L 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17.02.2019. * Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Cướp giật tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 171 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2019/HS-ST
Ngày: 14.6.2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Nga Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Thanh

Bà Lại Thị Điểm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Bà Triệu Hoàng Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2019/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức L, sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu tập thể X, xã D, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Y; Vợ: Phạm Thị M; Con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 198 do Công an quận Đống Đa lập ngày 17/02/2019; bị cáo đầu thú ngày 17.02.2019- Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Trần Minh T, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Lô A khu dịch vụ B, Xa La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội-Vắng mặt và đã có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 16/02/2019, Nguyễn Đức L điều khiển xe máy Honda Lead màu kem BKS: 29Y5-426.14 đến phố Thái Thịnh, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với mục đích cướp giật tài sản. Khi đi từ đầu ngõ 51 Thịnh Quang hướng ra phố Thái Thịnh, L thấy anh Trần Minh T đang ngồi trên xe máy trước cửa nhà số 17 ngõ 51 Thái Thịnh và sử dụng điện thoại Iphone 6 màu vàng nên L đã nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của anh Tâm. L điều khiển xe máy tiến lại gần vị trí của anh Tâm rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên tay anh Tâm sau đó điều khiển xe máy bỏ chạy ra sân bóng trường Đại học Thủy Lợi. Sau khi bị giật điện thoại anh Tâm có định vị chiếc điện thoại bị cướp giật thì phát hiện điện thoại của mình đang ở vị trí sân bóng trường Đại học Thủy Lợi. Anh Tâm đi xe máy ra khu vực sân bóng trường Đại học Thủy Lợi thì phát hiện L đang sử dụng chiếc điện thoại có đặc điểm giống với chiếc điện thoại mà anh Tâm vừa bị cướp giật, đặc điểm của L trùng với đặc điểm của đối tượng cướp giật điện thoại. Anh Tâm đã đến hỏi L “Mày giật điện thoại của tao à”, anh Tâm và L giằng co chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng trên tay L làm cho chiếc điện thoại bị rơi xuống đất. Do hoảng sợ, L đã để xe máy và điện thoại lại sau đó bỏ chạy. Anh Tâm đã đến Công an phường Thịnh Quang trình báo đồng thời giao nộp chiếc xe máy Honda Lead màu kem BKS: 29Y5-426.14 và chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng. Cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra xác minh và xác định chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng anh Tâm giao nộp là thuộc quyền sở hữu của anh Tâm.

Đến khoảng 03 giờ ngày 17/02/2019, Nguyễn Đức L đến Công an phường Thịnh Quang đầu thú và khai nhận hành vi cướp giật tài sản của mình như trên. Anh Tâm đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì. Anh Tâm có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho L.

Bản kết luận định giá tài sản số 74 ngày 21/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản quận Đống Đa kết luận:

- Trị giá điện thoại Iphone 6-16Gb: 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức L đã giao nộp: 01 mũ bảo hiểm màu kem có kính - hiệu GRS, 01 quần dài màu đen của Nguyễn Đức L mặc tại thời điểm cướp giật tài sản tối ngày 16/02/2019 tại trước nhà số 17 ngõ 51 Thái Thịnh, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ bên trong chiếc xe máy Honda Lead màu kem: 01 ví da màu đen bên trong có 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng nhân đăng ký xe mô tô – xe máy đều mang tên Nguyễn Đức L, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy, 01 thẻ ATM Vietcombank, 01 thẻ ATM Agribank, 01 thẻ ATM Shinhanbank và 01 chìa khóa xe máy có chữ Honda.

Đối với chiếc xe máy Honda Lead màu kem BKS: 29Y-426.14 mà cơ quan công an tạm giữ của L, qua điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên là chị Phạm Thị Mơ (sinh năm: 1991, trú tại: Duyên Thái, Thường Tín, Hà Nội) – là vợ của L. Xét thấy không liên quan đến vụ án nên cơ quan công an đã trao trả chiếc xe trên cùng toàn bộ giấy tờ thu giữ bên trong chiếc xe cho chị Mơ.

Cáo trạng số 148/CT-VKSĐĐ ngày 15.5.2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Nguyễn Đức L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 36 tháng đến 40 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Đức L đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 16/02/2019 tại trước cửa số nhà 17, ngõ 51 Thái Thịnh, phường Thịnh Quang,quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Nguyễn Đức L có hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật 01 chiÕc ®iÖn tho¹i di động Iphone 6-16G màu vàng trắng trị giá 2.300.000 đồng của anh Trần Minh Tâm và bị phát hiện bắt quả tang do vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật. [3] Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét hành vi của bị cáo dùng xe mô tô để thực hiện cướp giật tài sản là thủ đoạn nguy hiểm đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an, gây bất bình trong nhân dân vì vậy cần xử lý nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời giáo dục răn đe phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đầu thú, trong quá trình điều tra và xét xử đã khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, tài sản phạm tội đã được thu hồi để trả lại cho người bị hại, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử căn cứ vào hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng.

Do bị cáo không có điều kiện về kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. [5] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là anh Trần Minh Tâm đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Xử phạt: Nguyễn Đức L 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17.02.2019.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ Bản án.

Cỡ chữ