- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Nguyễn Ngọc T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2019/HS-PT Ngày: 06-5-2019 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG NAI
T
c
c
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Luyến
Các thẩm phán:
1. Ông Lê Văn Quý
2. Ông Phạm Thành Dương
T ư ký Tòa á
b ê bả
ê òa: Ông Nguyễn Vũ Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đạ d ệ V ệ k ể sá â dâ ỉ Đ
Na tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2019/HS-PT ngày 02 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số: 74/2019/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1984; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T (đã chết) và bà Phan Thị T (đã chết); gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 23 tháng 7 năm 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 năm tù về tội Giết người, Bản án phúc thẩm số 1940 ngày 20 tháng 10 năm 2003 của Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh xử y án 20 năm tù đối với Nguyễn Ngọc T về tội: “Giết người”, chấp hành xong hình phạt và ra tù ngày 26 tháng 4 năm 2017; bị cáo hiện đang bị giam, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 06 tháng 10 năm 2018, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số 60A-473.54 đến dừng ở lề đường trước tiệm mỹ phẩm B thuộc địa chỉ: Đường D, khu phố E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Nai, do anh Huỳnh N, sinh năm: 1988, ngụ tại: Đường G, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Nai làm chủ (lúc này anh N không có mặt tại tiệm B). Sau đó, T sang quán cơm sát bên tiệm mỹ phẩm B ăn cơm. Khoảng 15 phút sau, nhân viên của tiệm mỹ phẩm B có sang quán cơm nói T đậu xe chỗ khác để khách thuận tiện ra vào thì T có nói: “đường này không phải của nhà mày, là đường Nhà nước”. Sau đó, T đi bộ sang trước cửa tiệm B gây sự cãi nhau với anh Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1988, ngụ tại: Đường I, khu phố E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Nai là nhân viên của tiệm B, rồi T dùng tay đánh anh H. Bị đánh, anh H bỏ chạy vào trong tiệm B, lúc này T đi ra xe ô tô biển số 60A-XXXXX của mình lấy 01 con dao cán gỗ dài khoảng 80cm đuổi H nhưng được mọi người can ngăn thì T để dao lại vào xe và tiếp tục đuổi theo H vào bên trong tiệm B. Tại đây T tiếp tục dùng tay và chân đánh H nhiều cái làm H vừa tránh né vừa chạy vào phía sau tiệm. Lúc này, T quay ra dùng tay và chân xô đổ hai kệ trưng bày mỹ phẩm gồm nhiều loại mỹ phẩm như: Son môi, nước hoa, phấn, sơn móng, dụng cụ trang điểm,…để trên kệ của tiệm rơi xuống nền nhà bị hư hỏng. Sự việc xảy ra nhân viên tiệm B gọi điện thoại báo cho anh N biết và anh N đã báo cho Công an phường F đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc T, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C điều tra, xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 354/TCKH-HĐĐG ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Tổng số mỹ phẩm nhiều chủng loại, nhãn hiệu bị hư hỏng có tổng giá trị định giá là 47.490.000 đồng (bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại Bản án số: 74/2019/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 10 năm 2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, bị cáo Nguyễn Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nhận được đơn bãi nại của bị hại.
Tạ phiên tòa
c
,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về hình thức, thời hạn kháng cáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường thiệt hại nên cấp sơ thẩm xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bản thân bị cáo mới chấp hành xong về hình phạt tù 20 năm về tội: “Giết người”, chưa được xóa án tích nhưng đã phạm tội mới nên cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tuyên mức án 08 (tám) tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T không cung cấp thêm tình tiết nào khác để xem xét giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T cung cấp đơn xin bãi nại của bị đơn, đây là tình tiết mới phát sinh nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Do đó, căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo không tranh luận.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức, thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T đúng quy định và trong thời hạn nên được xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ. Do đó, đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng khoảng 18 giờ 45 phút ngày 06 tháng 10 năm 2018, tại tiệm mỹ phẩm B, địa chỉ: Đường D, khu phố E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi dùng tay chân xô đổ hai kệ trưng bày mỹ phẩm gồm nhiều loại mỹ phẩm như: Son môi, nước hoa, phấn trang điểm, dụng cụ trang điểm…để trên kệ rơi xuống nền nhà làm hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại là 47.490.000 đồng (bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang có tiền án nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù 20 năm về tội: “Giết người”, chưa được xóa án tích nhưng đã phạm tội mới nên Tòa cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp và có căn cứ.
Về kháng cáo của bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để tuyên xử bị cáo Nguyễn Ngọc T tội: “Hủy hoại tài sản” với mức án 08 (tám) tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm thì bị cáo cung cấp thêm chứng cứ mới là đơn bãi nại của bị hại, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Ngoài ra, phía người nhà của bị hại cũng có lỗi, vì bị cáo đậu xe trên diện tích đường công cộng, không phải đất sử dụng riêng của bị hại nhưng người nhà bị hại có lời nói, hành động không đúng đối với bị cáo.
Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm do có tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm; Giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng thời gian tạm giam cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của Nguyễn Ngọc T đã bồi thường cho anh Huỳnh N số tiền 47.490.000 đồng, Anh N không có yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin bãi nại cho bị cáo T, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (Bảy) tháng tù về tội: “Hủy hoại tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 10 năm 2018.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, nếu bị cáo Nguyễn Ngọc T không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơ ậ - VKS tỉnh - VKS huyện; - PV 27- Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THA huyện; - TAND huyện; - CA huyện; - B5 - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Luyến |