vanban.org

Bản án 137/2018/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/01/2018 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty Cổ phần T - Công ty TNHH MTV Đầu tư B"
  • Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2018/KDTM-PT
Ngày: 26/01/2018
V/v Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Hoa

Các Thẩm phán:

Bà Ủ Thị Bạch Yến

Ông Lê Công Toại

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2017/TLPT-KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2017/KDTM-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2995/2017/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần T

Trụ sở: đường T, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông H - Chuyên viên pháp chế (Vắng mặt)

(Văn bản ủy quyền số 33/2016/GUQ-T ngày 26/7/2016)

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV Đầu tư B

Trụ sở: đường P, Phường K, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông P - Giám đốc (Vắng mặt)

3. Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân Quận 8.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì sự việc đươc tóm tắt như sau: Căn cứ theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2014, các bản tự khai và lời khai trong các buổi làm việc nguyên đơn Công ty cổ phần T (T) trình bày: Ngày 11/8/2011, T có ký Hợp đồng mua bán số 131N/HĐ/T11 với Công ty TNHH MTV Đầu tư B (B) để cung cấp các mặt hàng điện tử-vi tính. Từ khi ký hợp đồng này cho đến trước tháng 11/2012, B đã thanh toán đầy đủ nhiều đơn hàng theo thỏa thuận của hợp đồng. Tuy nhiên, từ tháng 11/2012 đến tháng 04/2013 B đã đặt và nhận nhiều đơn hàng tiếp theo nhưng không thanh toán cho các đơn hàng này. Tổng giá trị các lô hàng trong khoảng thời gian này là 2.348.229.645 (hai tỷ ba trăm bốn mươi tám triệu hai trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi lăm) đồng. Ngày 16/12/2013, hai bên có buổi làm việc và T chấp nhận sử dụng 02 (hai) chứng thư bảo lãnh của ngân hàng cho B để thanh toán đơn hàng cho T số tiền là 1.000.000.000 (một tỉ) đồng. Số tiền còn lại là 1.348.229.645 (một tỷ ba trăm bốn mươi tám triệu hai trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi lăm) đồng, B sẽ trả cho T trước ngày 31/12/2013. Song, đến nay B chưa thanh toán số tiền này. Nay, T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc B trả số tiền nợ gốc là 1.348.229.645 (một tỷ ba trăm bốn mươi tám triệu hai trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi lăm) đồng và số tiền phạt do vi phạm hợp đồng là 187.858.372 (một trăm tám mươi bảy triệu tám trăm năm mươi tám ngàn ba trăm bảy mươi hai) đồng. Tổng cộng là 1.536.088.017 (một tỉ năm trăm ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi tám ngàn không trăm mười bảy) đồng. Ngày 31/7/2017, T có bản tự khai bổ sung xác định lại yêu cầu Tòa án buộc B trả số tiền nợ gốc là 1.348.229.645 (một tỷ ba trăm bốn mươi tám triệu hai trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi lăm) đồng và tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng số 131N/HĐ/T11 ngày 11/8/2011. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ vào các ngày 30/6/2017, 19/7/2017, 15/8/2017 và ngày 06/9/2017 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, do các đương sự vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa công bố tài liệu chứng cứ, lời khai của các đương sự trong vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự đối với nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật; Do bị đơn vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật, bên cạnh nguyên đơn đã cung cấp hợp đồng ký kết giữa các bên, các biên lai, hóa đơn đặt hàng thể hiện bị đơn chưa thanh toán. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án số 62/2017/KDTM-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T.

Buộc Công ty TNHH MTV Đầu tư B thanh toán số tiền nợ gốc và số tiền phạt do vi phạm hợp đồng là 1.456.088.017 (một tỉ bốn năm sáu triệu không trăm tám mươi tám ngàn không trăm mười bảy) đồng cho Công ty cổ phần T một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 02 tháng 10 năm 2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 ra Quyết định số 01/QĐKNPT-VKS-KDTM kháng nghị bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 62/2017/KDTM-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 8, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Kháng nghị một phần đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án về phần tính án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm:

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 còn trong thời hạn luật định. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8. Đề nghị HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm do bản án tuyên chưa đầy đủ căn cứ về phần lãi suất và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

I- Về hình thức: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 còn trong thời hạn luật định.

II- Về nội dung vụ án:

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 62/2017/KDTM-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phần án phí: Buộc Công ty TNHH MTV Đầu tư B phải chịu số tiền 55.004.260 đồng. Công ty Cổ phần T phải chịu số tiền 3.078.380 đồng. Xét thấy tiền án phí bị đơn phải chịu tính trên số tiền 1.456.088.017 đồng mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 55.682.641 đồng. Số tiền án phí nguyên đơn phải chịu tính trên số tiền 80.000.000 đồng do không được chấp nhận là 4.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí chưa chính xác, vi phạm quy định về pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 là có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, sửa lại án phí theo đúng quy định của pháp luật.

III- Về án phí: Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009:

- Án phí sơ thẩm: Công ty TNHH MTV Đầu tư B phải chịu số tiền 55.682.641 đồng. Công ty cổ phần T phải chịu số tiền 4.000.000 đồng. Vì các lẽ nêu trên; Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 186, Điều 177, Điều 179, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 300, 301 Luật Thương mại năm 2005;

- Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án năm 2009; Tuyên xử: Sửa bản án sơ thẩm: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T. Buộc Công ty TNHH MTV Đầu tư B thanh toán số tiền nợ gốc và số tiền phạt do vi phạm hợp đồng là 1.456.088.017 (một tỉ bốn trăm năm mươi sáu triệu không trăm tám mươi tám ngàn không trăm mười bảy) đồng cho Công ty cổ phần T một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. 2. Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV Đầu tư B phải chịu số tiền 55.682.641 đồng. Công ty cổ phần T phải chịu số tiền 4.000.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.041.000 đồng theo biên lai thu số 02714 ngày 14/3/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Công ty cổ phần T được nhận lại số tiền 25.041.000 đồng. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ