- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Văn V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2018/HSPT Ngày: 20/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhận;
Các Thẩm phán: Ông Đinh Quang Sơn;
Ông Vũ Mạnh Hùng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/TL-PT ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Lò Văn V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2017/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
* Bị cáo có kháng cáo:
Lò Văn V, sinh năm 1996; Nơi ĐKNKTT: Bản NK, cụm bản HM, huyện MM, tỉnh PSL, nước CHDCND Lào; Trình độ văn hoá: Lớp 5; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Lào; Con ông Lò Văn V1 và bà Lò Thị X; có vợ là Lò Thị M, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 07/6/2017; có mặt.
Người bào chữa do Tòa án chỉ định cho bị cáo: Luật sư Phạm Đình Kh - Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên; có mặt.
Người phiên dịch tiếng dân tộc: Ông Lò Văn H; Hiện công tác tại Phòng PC81 - Công an tỉnh Điện Biên; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 03/2017, Lò Văn V đang ở nhà thì nhận được điện thoại của bạn tên là V2 nhà ở xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên hỏi có Hêrôin và hồng phiến không? Nếu có thì mang sang Nà Hỳ bán cho bạn của V2 tên là L, nhà ở Lào Cai đang cần mua, V2 bảo sẽ cho L số điện thoại của V3 để hai người trao đổi việc mua bán Hêrôin và hồng phiến, V3 đồng ý, sau đó L đã gọi điện thoại cho V3 đặt vấn đề mua 02 bánh Hêrôin cùng 10 túi hồng phiến, thỏa thuận giá 140 triệu đồng/01 bánh Hêrôin và 5.500.000 đồng/01 túi hồng phiến, L yêu cầu V3 mang Hêrôin và hồng phiến đến mốc 4, biên giới Việt Lào thuộc xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ cho L thử chất lượng, V3 nhất trí và đến nhà ông E ở bản Huổi Hịa, cụm Hua Mức, huyện Mường Mày, tỉnh Phong Sa Lỳ, Lào đặt vấn đề mua nợ Hêrôin và hồng phiến đồng thời xin ông E một ít Hêrôin và hồng phiến để cho người mua thử chất lượng, ông E đồng ý. Sau khi xin được một ít Hêrôin và 02 viên hồng phiến V3 đã gọi điện thoại cho L đến điểm hẹn để thử chất lượng, tại mốc 4 biên giới Việt Lào, V3 và một người đàn ông giới thiệu là bạn của L thử chất lượng, sau đó L gọi điện thoại cho V3 đặt mua thêm 10 túi hồng phiến, tổng cộng là 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến, V3 đồng ý và gọi điện thoại trao đổi với ông E mua 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến với giá thỏa thuận là 126 triệu đồng/01 bánh Hêrôin và 3.500.000 đồng/01 túi hồng phiến. Ngày 06/6/2017, V3 gọi điện thoại cho L thông báo đã có Hêrôin và hồng phiến, hai bên hẹn gặp nhau vào ngày 07/7/2017 tại khu vực bản Sam Lang, Nà Hỳ, Nậm Pồ, Điện Biên. Sáng ngày 07/6/2017, ông E đưa cho V3 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến. V3 nhận Hêrôin và hồng phiến cho vào túi xác rắn màu trắng có quai, đeo trên vai đi bộ về lán ruộng của gia đình. Khi về đến lán ruộng của gia đình V3 thấy bố đẻ là ông Lò Văn V4 đang ngồi trong lán, V3 nói với V4 là vừa đi mua Hêrôin và hồng phiến để mang bán cho L ở Việt nam đồng thời V3 mở túi xác rắn cho V4 xem Hêrôin và hồng phiến, V3 rủ V4 đi cùng đến bản Sam Lang, Nà Hỳ bán cho L, V4 đồng ý, V3 bảo V4 đi trước để kiểm tra đường còn V3 cầm túi xác rắn bên trong có 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến đi sau. Khi đi đến khu vực rừng gần bản Sam Lang, Nà Hỳ, V3 đưa cho V4 cầm túi xác rắn bên trong có 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến đồng thời bảo V4 ở đó đợi còn V3 đi bộ một mình đến khu vực Km số 8 thuộc bản Sam Lang, Nà Hỳ, Nậm Pồ, Điện Biên thì gặp 02 người đàn ông đang ngồi trên xe ô tô bán tải màu trắng, giới thiệu là người của L (trong đó có 01 người đàn ông V3 đã gặp hôm thử ma túy), họ bảo V3 lên xe ô tô để bàn bạc, khi V3 lên xe ô tô thì được hai người đàn ông cho xem tiền, xem tiền xong V3 gọi điện thoại cho V4 nói con đã xem tiền, bố mang Hêrôin và hồng phiến xuống bản Sam Lang, Nà Hỳ để con bán cho L, V3 và hai người mua ma túy ngồi trên xe ô tô đợi khoảng hơn một tiếng sau thì V4 mang Hêrôin và hồng phiến đến, khi lên xe V4 đưa túi xác rắn bên trong có 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến cho V3, V3 và 02 người đàn ông đang trao đổi mua bán ma túy thì bộ đội biên phòng đến bao vây, thấy cán bộ biên phòng, người của L đã đẩy V3 và V4 cùng túi xác rắn bên trong có 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến xuống khỏi xe sau đó phóng xe ô tô chạy thoát còn Lò Văn V và Lò Văn V4 đã bị bắt giữ cùng vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng ngày 10/6/2017 đã xác định vật chứng thu giữ của Lò Văn V và Lò Văn V4 có trọng lượng như sau: 02 bánh chất bột màu trắng có trọng lượng là 732,1 gam và 3.583 viên nén màu hồng và màu xanh có trọng lượng là 332,79 gam.
Tại bản kết luận giám định số 561 ngày 09/7/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn V và Lò Văn V4 gửi giám định là loại Hêrôin; 20 mẫu viên nén màu hồng, màu xanh được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn V và Lò Văn V4 gửi giám định là Methamphetamine.
Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tuyên bố: Bị cáo Lò Văn V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn V tù Chung thân; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với bị cáo khác trong vụ án, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/12/2017, bị cáo Lò Văn V có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Lò Văn V khai nhận đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan; bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm đã quy kết và giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến đưa ra các tài liệu, chứng cứ, phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, quyết định của bản án sơ thẩm, căn cứ kháng cáo của bị cáo, kết luận: Bị cáo Lò Văn V đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Khi quyết định hình phạt tù, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất đặc biệt nghiêm trọng về hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét vai trò của bị cáo trong vụ án, nhân thân, áp dụng tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo tù chung thân là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, xét bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật hình sự, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn V.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lò Văn V trình bày: Về tội danh, Điều luật áp dụng đối với bị cáo không có ý kiến gì. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người Lào, hiểu biết pháp luật Việt Nam hạn chế, phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo xuống tù có thời hạn.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, luật sư, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai nhận của bị cáo và đồng phạm trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Ngày 07/6/2017, Lò Văn V đã có hành vi mua bán 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến của một người đàn ông tên E ở bản Huổi Hịa, cụm bản Hua mức, huyện Mường Mày, tỉnh Phong Sa Lỳ - Lào. Sau đó, V3 mang ma túy mua về lán nương lấy ra cho Lò Văn V4 (bố của V3) xem và rủ V4 mang sang bản Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Việt Nam bán cho người tên L (người tỉnh Lào Cai). Khi V3 và V4 đang trao đổi mua bán ma túy với người của L thì bị bộ đội Biên phòng bắt quả tang cùng vật chứng là 02 bánh Hêrôin và 20 túi hồng phiến.
Kết quả giám định số 561/KLGĐ-PC54 ngày 09/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 02 bánh chất bột mầu trắng là chất ma túy: Loại Hêrôin, tổng trọng lượng 732,1 gam.
Mẫu viên nén mầu hồng, xanh được trích ra từ 20 túi thu giữ là chất ma túy: Loại Methamphetamine, có trọng lượng 332,79 gam.
Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn V đã bị truy tố, xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo cùng đồng phạm đã mua bán nhiều chất ma túy đưa vào lãnh thổ Việt Nam, tiếp tay cho các tệ nạn ma túy phát sinh, phát triển gây hậu quả xấu trong đời sống xã hội; xâm phạm trật tự trị an, bị dư luận xã hội bất bình, lên án đòi hỏi pháp luật phải xử phạt thật nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, phòng chống loại tội phạm này.
Bị cáo Lò Văn V kháng cáo xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khi quyết định hình phạt tù, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất đặc biệt nghiêm trọng về hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò tham gia phạm tội của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn để xử phạt bị cáo tù Chung thân là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, xét bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Lò Văn V phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Văn V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn V tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2017.
[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3]. Án phí: Bị cáo Lò Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo (qua trại); - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Nhận |