- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi giữa ông Dương Văn Lập, bà Phạm Thị Mỹ với bà Phan Thị Yến"
- Tòa quyết gì? 27-11-2006 của Chính phủ;
- Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2018/DS-ST Ngày: 28-8-2018 V/v: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi giữa ông L, bà M với bà Y. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Triển
Ông Phạm Thạch Út
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên
tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 01
năm 2018 về “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét
xử số 155/2018/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2018 và Quyết định Hoãn
phiên tòa số 110/2018/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông D V L, sinh năm 1973 (có mặt)
Bà P T M, sinh năm 1975 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 01, ấp V P, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Bà P T Y, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 04, ấp V T, xã V B, huyện C T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 05-01-2018, nguyên đơn ông D V L, bà P
T M trình bày: ông bà có tham gia chơi các dây hụi do bà P T Y làm chủ như
sau:
+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
25-9-2016 âm lịch, nhằm ngày 25-10-2016, tổng số 20 phần, ông bà tham gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 16 ngày 25-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-01-2018 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Ông bà đóng 1 phần hụi sống 15 lần là 10.580.000đ.
+Dây hụi 2.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
10-01-2017 âm lịch, nhằm ngày 06-02-2017, tổng số 21 phần, ông bà tham gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 12 ngày 10-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 27-12-2017 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Ông bà đóng 1 phần hụi sống 11 lần là 14.200.000đ.
+Dây hụi 3.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
10-11-2016 âm lịch, nhằm ngày 08-12-2016, tổng số 24 phần, ông bà tham gia 2 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 2 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 14 ngày 10-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 27-12-2017 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Ông bà đóng 2 phần hụi sống 13 lần là 43.400.000đ.
Tổng cộng số tiền ông bà đóng hụi sống là 68.180.000đ. Nay ông bà yêu
cầu bà P T Y có nghĩa vụ trả lại ông bà tiền đóng hụi sống là 68.180.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12-3-2018, nguyên đơn ông D V L, bà P T M
trình bày:
+Dây hụi 1.000.000đ, khui lần đầu ngày 25-9-2016 âm lịch, nhằm ngày 25-
10-2016, ông bà đóng hụi sống là 10.140.000đ.
+Dây hụi 2.000.000đ, khui lần đầu ngày 10-01-2017 âm lịch, nhằm ngày
06-02-2017, ông bà đóng hụi sống là 14.200.000đ.
+Dây hụi 3.000.000đ, khui lần đầu ngày 10-11-2016 âm lịch, nhằm ngày
08-12-2016, ông bà đóng hụi sống là 45.800.000đ.
Tổng cộng số tiền ông bà đóng hụi sống là 70.140.000đ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông D V L, bà P T M trình bày: ông bà yêu cầu
bà Y trả lại số tiền đóng hụi sống của 3 dây hụi là 67.740.000đ như sau:
+Dây hụi 1.000.000đ, khui lần đầu ngày 25-9-2016 âm lịch, nhằm ngày 25-
10-2016, ông bà đóng hụi sống là 10.140.000đ.
+Dây hụi 2.000.000đ, khui lần đầu ngày 10-01-2017 âm lịch, nhằm ngày
06-02-2017, ông bà đóng hụi sống là 14.200.000đ.
+Dây hụi 3.000.000đ, khui lần đầu ngày 10-11-2016 âm lịch, nhằm ngày
08-12-2016, ông bà đóng hụi sống là 43.400.000đ.
Đối với dây hụi 2.000.000đ, hụi kỳ, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu
ngày 01-4-2016 âm lịch, nhằm ngày 07-5-2016, tổng số 22 phần, ông bà tham gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi đã hốt. Ông bà còn nợ 2 lần hụi chết là 4.000.000đ, ông bà đồng ý khấu trừ vào tiền hụi sống bà Y còn nợ ông bà để giải quyết cho xong vụ án. Sau khi khấu trừ ông bà yêu cầu bà Y trả lại ông bà số tiền nợ hụi là 63.740.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15-3-2018, bị đơn bà P T Y trình bày: ông D
V L, bà P T M có tham gia chơi các dây hụi do bà làm chủ như sau:
+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
25-9-2016 âm lịch, nhằm ngày 25-10-2016, tổng số 20 phần, ông L bà M tham
gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến
lần thứ 16 ngày 25-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-01-2018 thì ngưng do bể
hụi; Ông L bà M đóng 1 phần hụi sống 15 lần là 10.140.000đ.
+Dây hụi 2.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
10-01-2017 âm lịch, nhằm ngày 06-02-2017, tổng số 21 phần, ông L bà M tham
gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến
lần thứ 12 ngày 10-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 27-12-2017 thì ngưng do bể
hụi; Ông L bà M đóng 1 phần hụi sống 11 lần là 14.200.000đ.
+Dây hụi 3.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày
10-11-2016 âm lịch, nhằm ngày 08-12-2016, tổng số 24 phần, ông L bà M tham
gia 2 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 2 phần hụi còn sống. Hụi khui đến
lần thứ 14 ngày 10-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 27-12-2017 thì ngưng do bể
hụi; Ông L bà M đóng 2 phần hụi sống 16 lần là 45.800.000đ.
Tổng cộng số tiền ông L bà M đóng hụi sống là 70.140.000đ.
Ngoài ra ông L bà M còn tham gia dây hụi Dây hụi 2.000.000đ, hụi kỳ, mỗi
tháng khui một lần, khui lần đầu ngày 01-4-2016 âm lịch, nhằm ngày 07-5-2016,
tổng số 22 phần, ông L bà M tham gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi,
1 phần hụi đã hốt. Ông L bà M còn nợ 2 lần hụi chết là 4.000.000đ.
Nay trước yêu cầu đòi tiền đóng hụi sống của ông L bà M, bà xác định còn
nợ tiền đóng hụi sống của ông L bà M là 70.140.000đ, bà đồng ý trả cho ông L
bà M số tiền trên, yêu cầu ông L bà M khấu trừ tiền hụi chết 4.000.000đ và yêu
cầu không tính lãi. Về phương thức thanh toán bà sẽ bán tài sản để trả nợ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát
biểu quan điểm như sau:
1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố
tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà P T Y, Tòa án đã tống đạt hợp lệ
Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà Y vẫn
vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng
Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối
với bị đơn bà Y.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện. Đối chiếu
quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều
471; Điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; Thì vụ án có
quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự mà cụ thể là hợp đồng góp hụi.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ địa chỉ bị đơn, đối chiếu với quy định
của pháp luật tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp;
Biên bản lấy lời khai của ông D V L bà P T M ngày 12-3-2018 và Biên bản bản lấy lời khai của bà P T Y ngày 15-3-2018. Ngày 05-01-2018, nguyên đơn khởi kiện. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 429; Điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 184 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.
[5] Về nội dung giải quyết yêu cầu của đương sự:
Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp (bút lục 02 – 05);
Căn cứ Biên bản lấy lời khai ông D V L, bà P T M ngày 12-3-2018 (bút lục
31 – 34);
Căn cứ Biên bản lấy lời khai bà P T Y ngày 15-3-2018 (bút lục 35 – 38),
Từ các căn cứ trên có cơ sở kết luận giữa nguyên đơn ông L bà M và bị đơn
bà Y có phát sinh quan hệ hợp đồng góp hụi, việc góp hụi này đã không kết thúc mà bị bể hụi vào tháng 11/2017 âm lịch.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày số tiền đóng hụi sống là
68.180.000đ và yêu cầu bị đơn trả lại số tiền này, không yêu cầu tính lãi. Tại biên bản lấy lời khai nguyên đơn trình bày số tiền đóng hụi sống là 70.140.000đ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đóng hụi sống là 67.740.000đ, đồng ý khấu trừ 4.000.000đ tiền hụi chết còn nợ bị đơn, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn trình bày số tiền đóng hụi sống của nguyên đơn là 70.140.000đ, bị
đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền này nhưng yêu cầu được khấu trừ tiền hụi chết nguyên đơn còn nợ là 4.000.000đ, bị đơn yêu cầu được bán tài sản trả nợ dẫn đến phát sinh tranh chấp.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp hiệu lực
của các hợp đồng góp hụi. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền hụi sống đã đóng, không yêu cầu tính lãi. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét hiệu lực của các hợp đồng góp hụi.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thống nhất số tiền đóng hụi
sống của nguyên đơn các dây hụi là 70.140.000đ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đóng hụi sống là 67.740.000đ, đồng ý khấu trừ 4.000.000đ tiền hụi chết còn nợ bị đơn; nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ hụi là 63.740.000đ, không yêu cầu tính lãi.
[5.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông D V L, bà P T M: Xét mối quan hệ
tranh chấp trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phía bị đơn là người có lỗi, không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi, dẫn đến các dây hụi bị bể hụi. Nguyên đơn
yêu cầu bị đơn trả lại số tiền hụi sống đã đóng, không yêu cầu tính lãi. Việc vi
phạm này đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán một lần số tiền
nợ hụi 63.740.000đ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp
luật tại Điều 479 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; Điều 471 của Bộ Luật Dân sự
năm 2015 và Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-
CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5.2] Đối với bị đơn bà P T Y trình bày: Thống nhất và đồng ý trả cho
nguyên đơn số tiền đóng hụi sống là 70.140.000đ, nhưng không tham gia hòa
giải và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, bị đơn bà Y phải chịu hậu quả pháp lý của
việc không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.
Đối với dây hụi 2.000.000đ, hụi kỳ, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu
ngày 01-4-2016 âm lịch, nhằm ngày 07-5-2016, tổng số 22 phần, ông L bà M
tham gia 1 phần lấy tên vợ L trong danh sách hụi, 1 phần hụi đã hốt. Ông L bà
M còn nợ bà Y 2 lần hụi chết là 4.000.000đ. Bà Y yêu cầu được khấu trừ. Tại
phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện đồng ý khấu trừ 4.000.000đ tiền hụi chết còn
nợ bị đơn. Để giải quyết triệt để vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết khấu
trừ tiền hụi chết nguyên đơn còn nợ bị đơn.
[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 147
của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà
án.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên nguyên đơn không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn ông L, bà M
1.259.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0003261 ngày 18-01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành,
tỉnh An Giang.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Y có
nghĩa vụ trả lại nguyên đơn ông L, bà M 63.740.000đ nên bị đơn bà Y phải chịu
3.187.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271
và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn ông D V L, bà P T M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28-8-2018).
Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 184; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Điều 479 của Bộ Luật Dân sự năm 2005;
Điều 429; Điều 471; Điểm b, d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm
2015;
Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày
27-11-2006 của Chính phủ;
khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-
12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D V L, bà P T M.
[2] Buộc bị đơn bà P T Y phải trả một lần cho nguyên đơn ông D V L, bà P
T M số tiền đóng hụi sống còn nợ là 63.740.000đ (sáu mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).
[3] Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
[4] Về án phí:
Hoàn trả cho nguyên đơn ông D V L, bà P T M 1.259.000đ (một triệu hai
trăm năm mươi chín ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003261 ngày 18-01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị đơn bà P T Y phải chịu 3.187.000đ (ba triệu một trăm tám mươi bảy
ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn ông D V L, bà P T M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28-8-2018).
Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |