vanban.org

Bản án 137/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Về hinh pha ̣t: Về trách nhiệm dân sự: Á p du ̣ng Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn B - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2017/HSST
Ngày: 27/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Xẹt;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung, Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 9 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 128/2017/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Phan Văn B, sinh năm 1993 tại Thanh Hóa; giơi tinh: Nam; nơi đăng ký

́ hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phan Văn H, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị K, sinh năm 1965; bi ̣ cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 14/3/2017 bi ̣ áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý thuô ̣c Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương; có mă ̣t.

- Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp 2, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của ngườ i bi ̣ hại:

1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1949;

2. Bà Cao Thi ̣ N, sinh năm 1957;

3. Bà Lê Thi ̣ L, sinh năm 1986;

4. Cháu Nguyễn Minh K, sinh năm 2005;

5. Cháu Nguyễn Lê V, sinh năm 2013.

Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của Nguyễn Minh K và Nguyễn Lê V là bà Lê Thi ̣ L (me ̣ đẻ).

Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Bà Cao Thi ̣ N và bà Lê Thi ̣ L cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Văn M (theo văn bản ủy quyền ngày 22/3/2016); có mặt.

2. Ông Cao Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan: Bà Bùi Thi ̣ K, sinh năm 1955,

̃ nơi thườ ng trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua cá c tà i liê ̣u có trong hồ sơ vụ á n và quá trinh xé t hỏi, tranh luận tại

̀ phiên toà , nội dung vụ án được tó m tắ t như sau:

Phan Văn B không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của Luật Giao thông đường bộ. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2016, B điều khiển xe mô tô biển số 36K5-002.42 lưu thông trên đường ĐT 747B từ hướng ngã tư Lô 349 về hướng ngã tư vòng xoay cây xăng K. Khi đến đoạn đường thuộc Khu phố 7, phường U, B điều khiển xe mô tô biển số 36K5-002.42 chạy lấn sang phần đường dành cho xe ngược chiều và cùng thời điểm này hướng ngược chiều có xe mô tô biển số 69NH-0638 do ông Cao Văn Đ điều khiển chở ông Nguyễn Văn Q phía sau chạy đến nên xe 36K5-002.42 do B điều khiển va chạm vào xe mô tô biển số 69NH-0638 do ông Đ điều khiển, gây tai nạn giao thông. Hậu quả vu ̣ tai na ̣n: Ông Q chết tại Bệnh viện Đa khoa thị xã T, ông Đ và B bị thương tích, 02 xe mô tô bi ̣ hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nhựa bằng phẳng mặt đường rộng 08 mét trên mặt đường không có vạch sơn trắng, hai mép đường là hai phần đất và cát. Xe mô tô biển số 36K5-002.42 sau tai nạn ngã sang trái trên phần đất trong mép đường phải đầu hướng vòng xoay K, đuôi xe quay về hướng ngã tư Lô 349, trục bánh trước cách lề chuẩn là 1m70. Vị trí điểm đụng giữa xe mô tô biển số 36K5-002.42 và xe mô tô biển số 69NH-0638, cách lề chuẩn là 1m40 theo chiều hướng vòng xoay K về ngã tư Lô 349 (xe 36K5-002.42 lấn trái 2m60), đo đến trục bánh trước xe mô tô biển số 69NH-0638 là 0,9m, đo đến trục sau xe mô tô biển số 36K5-002.42 là 3m90.

Tại Kết luận giám định pháp y số 451 ngày 24/01/2016 của Trung Tâm Pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Q là do chấn thương sọ não, dập não.

Tại Kết luâ ̣n giám định pháp y về thương tích số 92/2017/GĐPY ngày 11/4/2017 của Trung Tâm Pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Cao Văn Đ bị thương tích 28%.

Cáo trạng số 115/QĐ-KSĐT ngày 24/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Phan Văn B về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

- Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn B từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử :

+ Trả la ̣i cho bi ̣ cáo Phan Văn B 01 xe mô tô biển số 36K5-002.42, số máy 5C6K122164, số khung DY122164 do Phan Văn B đứng tên trong giấy đăng ký xe;

+ Trả lại cho ông Cao Văn Đ: 01 (một) xe môtô biển số 69NH-0638, số máy VLFNB050A0106411, số khung A1006411 do ông Trần Văn M đứng tên trong giấy đăng ký xe.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Người bị hại ông Cao Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Ngày 27/9/2017 bi ̣ cáo đa giao cho ông Đ sỗ

́ tiền 5.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn la ̣i hai bên thỏa thuâ ̣n khấu trừ vào số tiền Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01973 ngày 24/8/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Xẽ

́t thấy, sự thoả thuâ ̣n nêu trên là tự nguyê ̣n, phù hợp vớ i Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584 và 589 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự nên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét

̀ xử ghi nhâ ̣n;

+ Ông Nguyễn Văn M là người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Nguyễn Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại. Hai bên thỏa thuâ ̣n khấu trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triê ̣u đồng) Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01983 ngày 26/9/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Bi ̣̃

cáo B còn phải bồi thườ ng cho những ngườ i thuô ̣c hàng thừ a kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Q số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triê ̣u đồng). Xét thấy, sự thoả thuâ ̣n nêu trên là tự nguyê ̣n, phù hợp vớ i Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584 và 589 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự nên đề

̀ nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n.

Ta ̣i phiên toà, bị cáo Phan Văn B thống nhất vớ i nô ̣i dung bản Cáo trạng số 115/QĐ-KSĐT ngày 24/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T và trinh bày

̀ về hành vi phạm tội của mình như nô ̣i dung đã nêu trên và xin nhâ ̣n la ̣i xe mô tô biển số 36K5-002.42, số máy 5C6K122164, số khung DY122164 do Phan Văn B đứng tên trong giấy đăng ký xe để gia đinh có phương tiê ̣n đi la ̣i.

̀

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tô ̣i danh và điều khoản theo nô ̣i dung cáo tra ̣ng truy tố của Viê ̣n kiểm sát. Tuy nhiên, về phần hinh pha ̣t mà đa ̣i

̀ diê ̣n Viê ̣n kiểm sát đề nghi ̣ áp du ̣ng đối vớ i bi ̣ cáo là quá nă ̣ng vi khi luâ ̣n tô ̣i

̀ Kiểm sát viên chưa nêu tinh tiết về viê ̣c ngườ i bi ̣ ha ̣i khi điều khiển xe cũng đa ̃

̀ uống rượu bia (điều này đa đượ̃

c xác đi ̣nh nồng đô ̣ cồn của ngườ i bi ̣ ha ̣i trong hồ sơ). Sau tai na ̣n, bi ̣ cáo cũng bi ̣ thương rất nă ̣ng, mă ̣c dù gia đinh bi ̣ cáo gă ̣p nhiều

̀ khó khăn về tài chinh nhưng cũng đa cỗ ́ gắng khắc phu ̣c hâ ̣u quả; bi ̣ cáo thể hiê ̣n

́ rõ thái đô ̣ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được ngườ i bi ̣ ha ̣i xin giảm nhe ̣ hinh pha ̣t; bi ̣ cáo là lao đô ̣ng chinh trong gia đinh và là ngườ i dân tô ̣c it ngườ i nên ̀

́

̀

́ nhâ ̣n thứ c về phát luâ ̣t còn thấp; ông nô ̣i của bi ̣ cáo là ngườ i có công vớ i cách ma ̣ng. Vi bi ̣ cáo có rất nhiều tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự nên căn cứ

̀

̀

̀ vào Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và

̀ Nghi ̣ quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hô ̣i đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướ ng dẫn áp du ̣ng quy đi ̣nh trong phần chung của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử quyết đi ̣nh hinh pha ̣t đối vớ i bi ̣ cáo ̀

̀ Phan Văn B thấp hơn mứ c hinh pha ̣t quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 2 Điều 202 Bô ̣ luâ ̣t Hinh

̀

̀ sự và cho bi ̣ cáo B được hưở ng án treo. Về trách nhiê ̣m dân sự thi đề nghi ̣ Hô ̣i

̀ đồng xét xử ghi nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n giữa bi ̣ cáo vớ i ngườ i bi ̣ ha ̣i và đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ngườ i bi ̣ ha ̣i.

Kiểm sát viên tranh luâ ̣n vớ i ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa: Những tinh tiết giảm nhe ̣ của ngườ i bào chữa đưa ra cho bi ̣ cáo cũng đa đượ̃

c

̀ Kiểm sát viên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử áp du ̣ng. Mă ̣c dù ngườ i bi ̣ ha ̣i có sử du ̣ng rượu bia khi tham gia giao thông nhưng tai na ̣n xảy ra vẫn là lỗi hoàn toàn do bi ̣ cáo B. Do đó, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát vẫn giữ nguyên mứ c đề nghi ̣ về hinh pha ̣t

̀ như đa nêu ỡ

̉ trên.

Quá trinh điều tra và ta ̣i phiên toà, người bị hại ông ông Cao Văn Đ trình

̀ bày: Ông Đ vớ i ông Q là ngườ i cùng quê. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2016, ông Đ điều khiển xe mô tô biển số 69NH-0638 theo hướ ng từ vòng xoay cây xăng K về xã H thi thấy ông Q đang đi bô ̣ về nhà tro ̣ nên ông Đ có chở

̀ ông Nguyễn Văn Q về nhà. Khi điều khiển xe thi ông Đ đa uỗ ́ng khoảng 03 đến

̀ 04 ly rượu (vi ông Đ làm thợ hồ). Sau khi cha ̣y được vài trăm mét thi xảy ra va

̀

̀ chạm. Sau khi tai na ̣n xảy ra ông Đ bi ̣ thương nă ̣ng nên không biết sự viê ̣c xảy ra sau đó. Ta ̣i phiên tòa ông Cao Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền nêu trên. Ngày 27/9/2017 bi ̣ cáo đa giao cho ông Đ sỗ

́ tiền 5.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn la ̣i hai bên thỏa thuâ ̣n khấu trừ vào số tiền Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01973 ngày 24/8/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Do đõ

́, đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n này. Sự viê ̣c xảy ra ngoài ý muốn nên ông Đ xin giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo B. Đối vớ i xe mô

̀

tô biển số 69NH-0638, số máy VLFNB050A0106411, số khung A1006411 do ông Trần Văn M đứng tên giấy đăng ký xe, ông M đã bán xe này cho ông Cao Văn Đ nhưng chỉ giao giấy đăng ký xe mà không làm thủ tục mua bán theo quy định. Vi vâ ̣y, ông Đ đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử cho ông Đ nhâ ̣n la ̣i xe để gia đinh

̀

̀ có phương tiê ̣n đi la ̣i.

Quá trinh điều tra và ta ̣i phiên toà, ngườ i đại diện hợp pháp của người bị

̀ hại ông Nguyễn Văn Q là ông Nguyễn Văn M trình bày: Ông Nguyễn Văn Q có cha là Nguyễn Văn M, me ̣ là Cao Thi ̣ N, có vợ là Lê Thi ̣ L. Ông Q và bà L có 02 ngườ i con là Nguyễn Minh K và Lê Văn V. Ông Q không có cha me ̣ nuôi và không có con riêng, con nuôi. Ta ̣i phiên Tòa ông Nguyễn Văn M và bi ̣ cáo Phan Văn B đa thỗ

́ng nhất bị cáo Phan Văn B phải bồi thường số tiền 150.000.000 đồng khấu trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triê ̣u đồng) Phan Văn B đa ̃ nô ̣p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01983 ngày 26/9/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa Tân Uyên. Bi ̣̃

cáo B còn phải bồi thườ ng cho những ngườ i thuô ̣c hàng thừ a kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Q số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triê ̣u đồng). Vi vâ ̣y, đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n sự thỏa

̀ thuâ ̣n này. Sự viê ̣c xảy ra ngoài ý muốn nên ông Mững đa ̣i diê ̣n gia đinh xin giảm

̀ nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo B.

̀

Trong lờ i nói sau cùng bi ̣ cáo trinh bày: Tai nạn xảy ra là sự viê ̣c không mong

̀

muốn, sau khi xảy ra tai nạn bi ̣ cáo đã bồi thườ ng khắc phục hậu quả đối với gia đình người bị hại. Hiện tại bị cáo đang phải nuôi cha mẹ già và điều trị chấn thương sau tai nạn. Do đó, đề nghi ̣ Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣t để bi ̣ cáo

̀ sớ m được trở về nhà lao động nuôi gia đình và chăm sóc cha mẹ.

̉ A HÔ

̀

̉ :

NHẬN ĐỊNH CU

̣I ĐÔNG XÉ T XƯ

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên toà, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

[1] Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Bi ̣ cáo thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i trên đi ̣a bàn thi ̣ xa ̃ T, tinh Bỉ

nh Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa T khỡ

̉ i tố vu ̣ án,

̀ khở i tố bi ̣ can đối vớ i bị cáo là đúng thẩm quyền. Về hành vi, quyết định tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thị xa T, Điều tra viên, Viê ̣̃

n kiểm sát nhân dân thi ̣ xa T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tỗ

́ đa thực hiê ̣̃

n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ tu ̣c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự. Quá trinh điều tra

̀

̀

̀ và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại không có ngườ i nào có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

[2] Về tinh tiết đi ̣nh tô ̣i, đi ̣nh khung hinh pha ̣t:

̀

̀

Ngày 16/01/2016, bi ̣ cáo Phan Văn B điều khiển xe mô tô biển số 36K5-002.42 không đảm bảo an toàn, lấn trái gây tai nạn với xe mô tô biển số 69NH-0638 lưu thông ngược chiều gây hậu quả nghiêm trọng làm ông Nguyễn Văn Q chết và ông Cao Văn Đ bị thương tích với tỷ lệ thương tật 28%.

Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy đi ̣nh: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Điều 202 của Bộ luật hình sự thì: “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định”.

Khi thực hiện hành vi pha ̣m tô ̣i bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Bị cáo tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe, không đi đúng làn đường, phần đường quy định và vượt xe không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại Khoản 9 Điều 8, Khoản 1 Điều 9 và Khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bi ̣ cáo Phan Văn B đa cẫ ́u thành tô ̣i “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣t được quy đi ̣nh ta ̣i Điểm a Khoản 2 Điều 202

̀ của Bộ luật Hình sự.

Như vâ ̣y, Cáo trạng số 115/QĐ-KSĐT ngày 24/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bi ̣ cáo về tội “Vi phạm quy định về điều kiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự cũng như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tinh tiết tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự: Bi ̣ cáo không có tinh tiết tăng

̀

̀

̀ nă ̣ng trách nhiê ̣m hình sự.

[4] Về tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể

̀

̀

hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; quá trinh

̀ điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thườ ng khắc phục hậu quả và được người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo là lao động chính trong gia đình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trong diện vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (Vùng 135); bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng và phải điều trị sau tai nạn xảy ra. Như vâ ̣y, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết đi ̣nh hinh pha ̣t: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với

̀ xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng, sứ c khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, đặc biệt trong tình hình hiện nay Nhà nước ta đang tăng cường triển khai thi hành Luật Giao thông đường bộ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tinh tiết giảm

̀ nhe ̣ như nêu trên. Bi ̣ cáo là ngườ i dân tô ̣c Mườ ng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luâ ̣t mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Hô ̣i đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứ ng vớ i tinh chất, mứ c đô ̣ của hành vi pha ̣m tô ̣i; đủ

́

tác dụng giáo du ̣c bi ̣ cáo và răn đe, phòng ngừ a chung. Lờ i trinh bày của ngườ i

̀ bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử quyết đi ̣nh hinh pha ̣t đối vớ i bi ̣ cáo Phan Văn

̀ B thấp hơn mứ c hinh pha ̣t quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 2 Điều 202 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự và cho

̀

̀ bi ̣ cáo B được hưởng án treo là không có căn cứ nên không được Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n.

[6] Về hinh pha ̣t bổ sung: Hô ̣i đồng xét xử thấy bi ̣ cáo có hoàn cảnh kinh tế

̀ khó khăn nên không áp du ̣ng hình pha ̣t bổ sung.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

+ Người bị hại ông Cao Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Ngày 27/9/2017 bi ̣ cáo đa giao cho ông Đ sỗ

́ tiền 5.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn la ̣i hai bên thỏa thuâ ̣n khấu trừ vào số tiền Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01973 ngày 24/8/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Xẽ

́t thấy, sự thoả thuâ ̣n nêu trên là tự nguyê ̣n, phù hợp vớ i Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584 và 589 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự nên Hô ̣i đồng xét xử ghi

̀ nhâ ̣n;

+ Ông Nguyễn Văn M là người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Nguyễn Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại. Hai bên thỏa thuâ ̣n khấu trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triê ̣u đồng) Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01983 ngày 26/9/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Bi ̣̃

cáo B còn phải bồi thườ ng cho những ngườ i thuô ̣c hàng thừ a kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Q số tiền 130.000.000 đồng (mô ̣t trăm ba mươi triê ̣u đồng). Xét thấy, sự thoả thuâ ̣n nêu trên là tự nguyê ̣n, phù hợp vớ i Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584 và 589 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự nên Hô ̣i

̀ đồng xét xử ghi nhâ ̣n.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41, 42 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hô ̣i đồng xét xử thấy:

Đối vớ i vật chứ ng là 01 (một) xe môtô biển số 36K5-002.42, số máy 5C6K122164, số khung DY122164 do Phan Văn B đứng tên giấy đăng ký xe. Vi

̀ bi ̣ cáo thực hiê ̣n hành vi vớ i lỗi vô ý nên cần trả la ̣i xe cho bi ̣ cáo Bắc.

Đối với 01 (một) xe biển số môtô xe môtô biển số 69NH-0638, số máy VLFNB050A0106411, số khung A1006411 do ông Trần Văn M đứng tên giấy đăng ký xe không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho ông Cao Văn Đ.

[9] Về kiến nghi ̣: Hô ̣i đồng xét xử thấy không có văn bản hành chinh hoă ̣c

́ hành vi hành chinh nào của cơ quan nhà nướ c vi phạm nên không kiến nghi ̣.

́

[10] Về viê ̣c xem xét viê ̣c áp du ̣ng, thay đổi hoă ̣c huỷ bỏ biê ̣n pháp ngăn chă ̣n: Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục áp dụng biê ̣n pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo B để đảm bảo cho việc thi hành án.

[11] Về chi phí tố tu ̣ng: Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ Khoản 2 Điều 12; Điểm a Khoản 1 Điều 23 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thi bị cáo Phan Văn B phải nộp 200.000 đồng

̀

án phi hinh sự sơ thẩm và 6.500.000 đồng án phi dân sự sơ thẩm nhưng bi ̣ cáo là

́ ̀

́ ngườ i dân tô ̣c thiểu số sống ta ̣i các xã có điều kiê ̣n kinh tế – xa hô ̣̃ i đặc biê ̣t khó khăn nên được miễn án phi dân sự sơ thẩm.

́

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2. Về hinh pha ̣t:

̀

- Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Văn B 03 (ba) năm tù; thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Á p du ̣ng Điều 42 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 584

̀ và 589 của Bộ luâ ̣t Dân sự, tuyên xử :

+ Bi ̣ cáo Phan Văn B phải bồi thườ ng cho ông ông Cao Văn Đ số tiền 15.000.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 5.000.000 đồng (đa giao ngã

̀y 27/9/2017) và số tiền 10.000.000 đồng (Mườ i triê ̣u đồng) Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01973 ngày 24/8/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T.̃ Bi ̣ cáo B đa thự̃

c hiê ̣n xong nghia vu ̣̃

vớ i ông Cao Văn Đ.

+ Bi ̣ cáo Phan Văn B phải bồi thườ ng cho những ngườ i thuô ̣c hàng thừ a kế thứ nhất của của ông Nguyễn Văn Q (do ông Nguyễn Văn M đại diện) số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triê ̣u đồng) khấu trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triê ̣u đồng) Phan Văn B đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai thu tiền số AA/2013/01983 ngày 26/9/2017 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thi ̣ xa T. Bi ̣̃ cáo Phan Văn B còn phải bồi thườ ng cho những ngườ i thuô ̣c hàng thừ a kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Q (do ông Nguyễn Văn M đại diện) số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triê ̣u đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngườ i được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bi ̣ cáo Phan Văn B chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 468 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử :

- Trả la ̣i cho bi ̣ cáo Phan Văn B 01 (một) xe môtô biển số 36K5-002.42, số khung DY122164, số máy 5C6K122164 (không kiểm tra tình tra ̣ng máy móc bên trong);

- Trả lại cho ông Cao Văn Đ 01 (một) xe môtô biển số 69NH-0638, số máy VLFNB050A0106411, số khung A1006411 (không kiểm tra tình tra ̣ng máy móc bên trong).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T)

5. Về chi phí tố tu ̣ng: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 và Điểm đ Khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

5.1. Về án phi hinh sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn B phải nộp 200.000 đồng

́ ̀ (Hai trăm nghìn đồng).

5.2. Về án phi dân sự sơ thẩm: Bi ̣ cáo Phan Văn B được miễm án phi dân sự

́

́ sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ