vanban.org

Bản án 1369/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Mỹ L và ông Đặng Thanh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1369/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28-11-2019.
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Bé

2. Bà Trần Thị Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Không tham gia phiên toà.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1054/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 245/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Ấp X, xã P,huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đặng Thanh T, sinh năm: 1989; Địa chỉ: ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 31 tháng 5 năm 2019, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L trình bày bà và ông Đặng Thanh T tự nguyện sống chung từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Củ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 03 ngày 05 tháng 01 năm 2013.

Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc. Nhưng càng về sau thì càng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính tình, bất đồng quan điểm. ông T thường xuyên đi uống rượu bia, không chăm lo cho gia đình. Bà nhận thấy ông T không sửa chữa bản tính, nên các bên thường xuyên cãi vã, làm cho gia đình mất hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà và ông T không còn sống chung từ năm 2018, do vậy bà xác định không thể tiếp tục sống chung được, không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn với ông T.

Về nuôi con chung: Bà xác định có 02 con chung tên Đặng Trần Thiên P, sinh ngày: 25/02/2014 và Đặng Trần Thiên B, sinh ngày: 03/9/2018 và hiện cả 02 trẻ đang sống chung với bà. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.

Bị đơn ông Đặng Thanh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn xin ly hôn ngày 31 tháng 5 năm 2019, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn ông Đặng Thanh T có nơi cư trú tại: xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Bà Trần Thị Mỹ L và ông Đặng Thanh T tự nguyện sống chung từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 03 ngày 05 tháng 01 năm 2013, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do hai bên không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, ông T thường xuyên ăn chơi, uống rượu bia không chăm lo cho gia đình. Bà đã nhiều lần khuyên can, nhưng ông T vẫn không sửa chữa. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định và được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, thể hiện bị đơn không mong muốn đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do vậy không có cơ sở hòa giải đoàn tụ theo quy định. Đồng thời, bà L trình bày bà và ông T đã không còn sống chung từ năm 2018 đến nay. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T là có xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số 39 ngày 05/3/2014 và giấy trích lục khai sinh số 526/TLKS-BS ngày 17/9/2018 của Uỷ ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định bà L và ông T có 02 con chung tên Đặng Trần Thiên P, sinh ngày: 25/02/2014 và Đặng Trần Thiên B, sinh ngày: 03/9/2018. Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày cả 02 trẻ đang sống chung với bà. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định đối với yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, do vậy, để ổn định tâm sinh lý và đảm bảo điều kiện sống cho trẻ, tiếp tục giao 02 trẻ cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Xét về chia tài sản và nghĩa vụ dân sự chung, nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nếu có tranh chấp về nuôi con chung, về chia tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, nghĩ nên buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ L.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Mỹ L và ông Đặng Thanh T.

(Quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Mỹ L và ông Đặng Thanh T được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 03 ngày 05 tháng 01 năm 2013 do Uỷ ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp)

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Đặng Trần Thiên P, sinh ngày: 25/02/2014 và Đặng Trần Thiên B, sinh ngày: 03/9/2018 cho bà Trần Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về chia tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng buộc bà Trần Thị Mỹ L phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0022516 ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà Trần Thị Mỹ L đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn không có mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ