- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp tài sản bán đấu giá và quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Hủy B n án dân sự sơ thẩm s 44/2017/DS-ST ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện N.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 136/2018/DS-PT Ngày: 04-6-2018 V/v tranh chấp tài s n bán đấu giá và quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng
Các Thẩm phán:
Bà Ph m Thị Liên Hiệp
Bà Nguy n Thị Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n B o u c - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Ph m Thị Thanh Hương - i m sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 16/4/2018, 07/5/2018, 28/5/2018 và 04/6/2018 t i trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 323/2017/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2017 về việc tranh chấp tài s n bán đấu giá và quyền sử dụng đất.
Do B n án dân sự sơ thẩm s : 44/2017/DS-ST ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện N bị kháng cáo.
Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s : 81/2018/ Đ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ph m Thị P, sinh năm 1971; địa ch : Ấp A, xã P, huyện H, t nh Đ ng Tháp.
Người đ i diện theo ủy quyền: Bà Nguy n Thị T, sinh năm:1959 (văn b n ủy quyền ngày 07/3/2018); địa ch : Ấp N, xã P, huyện H, t nh Đ ng Tháp (Có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Chi cục Thi hành án dân sự huyện N
Người đ i diện theo pháp luật: Ông Vũ uang H, chức vụ: Chi cục trưởng; ủy quyền cho bà Mai Thị Thu C, chức vụ: Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự (văn b n ủy quyền ngày 27/3/2018) (Có đơn xin vắng mặt).
2.2. Lâm Thị im L, sinh năm 1981; địa ch : Ấp , xã P, huyện N, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền: Ông Lê Phi T, sinh năm 1956; địa ch : Ấp H, xã P, huyện N, t nh Đ ng Tháp (văn b n ủy quyền ngày 13/6/2017) (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện N, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo pháp luật: Ông Nguy n Văn N, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (Có đơn xin vắng mặt).
3.2. Công ty Trách nhiệm hữu h n bán đấu giá tài s n Đ.
Địa ch : S C, phường M, thành ph C, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo pháp luật: Ông Trần Công L, chức vụ: Giám đ c Công ty Trách nhiệm hữu h n bán đấu giá tài s n Đ.
Đ i diện theo ủy quyền: Ông Nguy n Thành , chức vụ: Phó Giám đ c Công ty Trách nhiệm hữu h n bán đấu giá tài s n Đ (văn b n ủy quyền ngày 02/4/2018) (Có đơn xin vắng mặt).
3.3. Lâm Thị D, sinh năm 1970 (Có mặt).
Địa ch : Ấp , xã P, huyện N, t nh Đ ng Tháp.
Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lâm Thị D: Luật sư Lê Thị M - Văn phòng luật sư T, chi nhánh V – Thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt).
3.4. Ph m Thanh T, sinh năm 1959
Địa ch : Ấp , xã P, huyện N, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị D (văn b n ủy quyền ngày 08/9/2017).
3.5. Võ Văn T, sinh năm 1977 (Có đơn xin vắng mặt).
3.6. Trần Thị D, sinh năm 1983 (Có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa ch : Ấp H, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.
4. Người kháng cáo: Lâm Thị im L, Lâm Thị D - Là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Bà Nguy n Thị T là đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ph m Thị P trình bày:
Ngày 15/5/2013, bà P là người trúng đấu giá tài s n thi hành án 03 thửa đất 457, 458 và 459 với tổng diện tích 19.210 m2. Đến ngày 31/7/2013 thì Chi cục thi hành án dân sự huyện N đã bàn giao đất, có lập biên b n giao trên thực địa và UBND huyện N đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/5/2014.
Ngày 02/12/2013, bà P vào canh tác vụ Đông xuân 2013 - 2014 được 02 thửa là 457 và 458, còn thửa 459, diện tích 8.552m2 thì bị bà Lâm Thị im L bao chiếm. Do không được sử dụng đất, nên bà P khởi kiện yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện N, Công ty TNHH bán đấu giá tài s n Đ và bà Lâm Thị Kim L giao 8.552m2 đất mà bà P được trúng đấu giá. Đ i với việc b i thường thiệt h i thì không yêu cầu.
- Ông Lê Phi T đ i diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lâm Thị im L trình bày: Ngu n g c đất là của bà L được cha mẹ cho và canh tác từ năm 1988 đến nay, nhưng UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm Văn C, sau đó ông C sang nhượng l i cho ông T, bà D. Khi thi hành án thì mới phát hiện đất đang sử dụng được cấp sai thửa, nên cơ quan Thi hành án thi hành không đúng, nên không đ ng ý giao đất cho bà P.
- Bà Mai Thị Thu C là người đ i diện của bị đơn Chi cục thi hành án dân sự huyện N trình bày: Đ thi hành B n án s 223/DS-PT ngày 13/11/2012 của Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp, Chi cục thi hành án dân sự huyện N đã ra uyết định thi hành án s 247/ Đ-CCTHA ngày 12/12/2012 đ buộc ông T, bà D tr tiền cho ông Th, bà P. Đến ngày 11/01/2013 tiến hành cưỡng chế kê biên tài s n là quyền sử dụng đất của ông T, bà D diện tích 19.210 m2 thuộc các thửa 457, 458 và 459. Đến ngày 26/3/2013 Chi cục thi hành án dân sự ký hợp đ ng với Công ty TNHH bán đấu giá tài s n Đ đ bán đấu giá tài s n trên. Sau khi bà P trúng đấu giá thì ngày 31/7/2013 Chi cục thi hành án dân sự đã tiến hành cưỡng chế giao tài s n cho bà P và đề nghị UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong su t quá trình kê biên thi hành án, bà L là em ruột của bà D có chứng kiến nhưng cũng không có ý kiến gì về quyền sử đụng đất t i thửa 459, diện tích 8.552m2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lâm Thị D và ông Ph m Thanh T trình bày: Đất tranh chấp là của bà L nhưng cấp sai thửa cho ông Lâm Văn C và ông C bán cho vợ ch ng bà thửa 456, tờ b n đ s 6 vào năm 2010, nhưng khi chuy n quyền cho vợ ch ng bà thì là thửa 459, lúc thi hành án bán đấu giá, bà có khiếu n i nhưng cơ quan Thi hành án dân sự vẫn bán.
+ Công ty trách nhiệm hữu h n bán đấu giá tài s n Đ trình bày: Đất đấu giá do ông Ph m Thanh T và bà Lâm Thị D đứng tên giấy chứng nhận và người trúng đấu giá là bà Ph m Thị P, diện tích 19.210m2 thuộc các thửa 457, 458 và 459. Ngu n g c tài s n trước khi đưa ra bán đấu giá trong giấy đất không có tên bà L và sau khi trúng đấu giá thì UBND huyện N đã cấp giấy chứng nhận cho bà P đứng tên quyền sử dụng đất, bà L là chủ thửa đất liền kề với thửa 459 nên bà L ph i chịu trách nhiệm giao tr cho bà P diện tích 8.552m2 thửa 459.
+ Ủy ban nhân dân huyện N trình bày: Ủy ban huyện N không có ý kiến và sẽ thực hiện kết qu gi i quyết của Tòa án khi có quyết định hoặc b n án có hiệu lực pháp luật.
+ Ông Võ Văn T và bà Trần Thị D trình bày: Ngày 09/7/2010 có nhận cầm c đất của bà Mai Thị C (mẹ của bà Lâm Thị im L), diện tích 34.652m2. Việc bà P yêu cầu bà Loan tr đất 8.552m2 thuộc đất cầm c hiện ông, bà canh tác thì ông, bà không yêu cầu gì hết, tự bà P với bà L gi i quyết.
B n án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện N đã quyết định:
- hông chấp nhận yêu cầu của bà Ph m Thị P về việc yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện N giao đất theo kết qu đấu giá.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Ph m Thị P về việc yêu cầu bà Lâm Thị Kim L tr l i đất bao chiếm.
- Bà Lâm Thị im L, bà Lâm Thị D, ông Ph m Thanh T, anh Võ Văn T và chị Trần Thị D ph i giao đất t i thửa 459, tờ b n đ s 6, diện tích 8.552m2 cho bà Ph m Thị P sử dụng. Vị trí:
+ Phía Đông giáp đất là Lâm Thị Kim L 101,91m.
+ Phía Tây giáp đường nước 103,67m.
+ Phía Nam giáp đất bà Châu Thị L, Lê Thị M 85,5m.
+ Phía Bắc giáp đường nước 92,94m.
(Hiện anh T, chị D đang sử dụng và có sơ đ đo đ c kèm theo).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Lâm Thị im L ph i nộp 17.104.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Bà Ph m Thị P ph i chịu 17.104.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp là 300.000 đ ng theo biên lai thu s BN/2013 09397 ngày 19/4/2017. Bà P còn ph i nộp thêm s tiền 16.804.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Chi cục thi hành án dân sự huyện N, UBND huyện N, Công ty TNHH bán đấu giá tài s n Đ, ông Ph m Thanh T, bà Lâm Thị D, anh Võ Văn T, chị Trần Thị D không ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra b n án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người ph i thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Chị Lâm Thị im L kháng cáo toàn bộ b n án, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định kê biên cưỡng chế bán đấu giá phần đất của chị L t i thửa 459, diện tích 8552m2 và cấp quyền sử dụng đất cho chị L.
- Chị Lâm Thị D kháng cáo toàn bộ b n án, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án đ Ủy ban nhân dân huyện cấp chuy n đổi 02 thửa đất 459 và 456 cùng thuộc tờ b n đ s 06 đúng vị trí và đ i tượng sử dụng.
- T i phiên tòa phúc thẩm:
+ Bà D yêu cầu hủy một phần hợp đ ng chuy n nhượng đất giữa hộ của ông C với hộ của bà đ i với thửa 459 (đất tranh chấp).
+ Ý kiến của người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Luật sư M đề nghị hủy b n án sơ thẩm do vi ph m t tụng dẫn đến gi i quyết vụ án chưa đầy đủ yêu cầu của đương sự.
- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân T nh ý kiến về vụ án:
Về t tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét gi i quyết vụ án cũng như t i phiên tòa phúc thẩm, những người tiến hành t tụng và người tham gia t tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật t tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ kho n 3 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đ ng xét xử hủy b n án dân sự sơ thẩm do thiếu tư cách đương sự, không đưa hộ ông C vào tham gia t tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh tụng t i phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà Ph m Thị P ủy quyền cho bà Nguy n Thị T, bà Lâm Thị im L ủy quyền cho ông Lê Phi T, bà Mai Thị Thu C đ i diện theo uỷ quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện N (Chi cục THA) và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Ngu n g c đất của bà Ph m Thị P diện tích 8.552m2 thuộc thửa 459 tờ b n đ s 6, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/5/2014, đất này do Chi cục THA bán đấu giá tài s n của bà D, ông T đ b o đ m việc thi hành án theo quy định của pháp luật. Nay bà L cho rằng diện tích đất thửa s 459 không ph i đất của hộ bà D mà là thuộc quyền sử dụng của bà, nên việc cơ quan Thi hành án kê biên bán đấu giá là không đúng, nên bà không đ ng ý theo yêu cầu của bà P.
Đ i diện Chi cục THA trình bày, thực hiện kê biên tài s n đ i với thửa đất 459 là căn cứ vào việc cơ quan có thẩm quyền công nhận cấp giấy chứng nhận cho hộ của bà D và kết qu xác minh thực tế t i địa phương. Đ ng thời khi thực hiện thủ tục kê biên tài s n b o đ m công khai đúng quy định của pháp luật, bà D, bà L đều có chứng kiến việc kê biên, xác định vị trí ranh đất đ cơ quan chuyên môn đo đ c và tất c cùng ký tên vào biên b n kê biên và b n mô t chi tiết m c giới, ranh giới thửa đất. Việc bà D, bà L đ ng ý vị trí ranh thửa đất 459 khi thực hiện đo đ c có các ông Võ Văn B, Nguy n u c N tham gia thực hiện ký tên biên b n kê biên, nay các ông này có giấy xác nhận bà L là người trực tiếp có mặt ch ranh đất khi đo đ c, nên bà L ph i có nghĩa vụ tr đất l i cho bà P.
T i phiên tòa phúc thẩm, bà D yêu cầu hủy một phần hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ của bà với hộ ông C đ i với thửa đất 459, vì bà không có nhận chuy n nhượng phần đất này. Bà T yêu cầu Chi cục THA và bà L giao đất cho bà P sử dụng, trường hợp không giao đất được thì hoàn tr tiền l i và b i thường thiệt h i. Ông Lê Phi T yêu cầu xem xét l i b n án sơ thẩm, vì đất là của bà L nên bà L không đ ng ý theo yêu cầu của bà P. Trên thực tế, hộ ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/10/1999 diện tích 8.552m2 thửa 459 tờ b n đ s 06 (lúa); ngày 21/4/2010, ông Lâm Văn C và các thành viên trong hộ g m: Trần Thị N, Lâm N, Lâm u c D, Lâm Thị Thủy T, Lâm Thị Ng c T, Lâm Thị Ng c N, Lâm Thị cùng ký tên vào hợp đ ng s 186 đ thực hiện chuy n nhượng đất cho vợ ch ng bà D và ông T bà D được cấp giấy chứng nhận vào ngày 06/5/2010, vì vậy việc tranh chấp nói trên có liên quan đến hộ của ông C. uá trình gi i quyết vụ án, các đương sự không cung cấp được địa ch của hộ ông C, nên không th đưa những người trong hộ ông C vào tham gia t tụng được. T i phiên tòa phúc thẩm, bà D, bà P đều cho rằng gia đình ông C đi làm ăn ở t nh Bình Dương nên không biết được địa ch cư trú của hộ ông C; tuy nhiên, bà D yêu cầu t m ngưng phiên tòa đ bà tìm ông C yêu cầu ông C đến Tòa án trình bày làm rõ việc tranh chấp.
Ngày 25/5/2018, ông C có mặt t i Tòa án T nh và ông cho rằng thửa đất s 459 không ph i là của ông, nhưng ông thừa nhận khi chuy n nhượng đất cho bà D trong đó có thửa đất s 459, trường hợp hủy hợp đ ng thì bà D bà L biết thửa ruộng lẫn nhau nên tự chịu trách nhiệm. Do đó cần ph i xác định hộ của ông C vào tham gia t tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ làm rõ về ngu n g c đất, quá trình sử dụng, việc chuy n nhượng đ xem xét trách nhiệm dân sự của các bên trong cùng một vụ án, nhằm gi i quyết toàn diện các quan hệ pháp luật b o đ m quyền, nghĩa vụ của các bên, nên hủy b n án sơ thẩm giao h sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm gi i quyết l i theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thời gian gi i quyết vụ án t i Tòa án cấp sơ thẩm, tất c các đương sự đều không th cung cấp được địa ch cư trú của ông C, nay mới tìm được ông C, nên việc b n án bị hủy là không ph i do lỗi của Thẩm phán trong gi i quyết án.
Đ i diện Viện ki m sát T nh đề nghị hủy án sơ thẩm do thiếu tư cách đương sự đ i với hộ của ông C, đề nghị của Viện ki m sát là có cơ sở như đã phân tích trên nên chấp nhận.
Về án phí: Do hủy b n án sơ thẩm nên bà L, bà D không ph i chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho n 1 Điều 148, kho n 3 Điều 308; Nghị quyết s 326/2016/UBTV H 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ u c hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
1. Hủy B n án dân sự sơ thẩm s 44/2017/DS-ST ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện N.
2. Giao h sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện N gi i quyết l i theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
Bà Lâm Thị im L không ph i chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm và được nhận l i tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000đ (do bà Lâm Thị D nộp thay) theo biên lai thu s 17193 ngày 04/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
Bà Lâm Thị D, ông Ph m Thanh T không ph i chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm và bà Lâm Thị D được nhận l i tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000đ theo biên lai thu s 17192 ngày 04/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - V SND T nh; - TAND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HÚC THẨM THẨM HÁN - CHỦ TỌA HIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |