vanban.org

Bản án 136

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Tiếp tục duy trì lệnh c m đi kh i nơi cƣ trú số 20/2024/LCĐKNCT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cho đến khi bị cáo đi ch p hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Ly, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Bá Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 130/2024/HSST-QĐXX ngày 16/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1998, tại tỉnh Bình Phƣớc; thƣờng trú: thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phƣớc; nghề nghiệp: không; trình độ h c v n: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; con ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1968 và bà Đới Thị T, sinh năm 1971; c 01 chị sinh năm 1993; bị cáo chƣa c v con; tiền án, tiền sự: không; áp dụng biện pháp c m đi kh i nơi cƣ trú, c m t.

- Bị hại: anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1999; địa chỉ: B, đƣờng C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; c yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Huỳnh Ng c S, sinh năm 1991; địa chỉ: A đƣờng C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; c yêu cầu giải quyết vắng m t.

2. Anh Võ Văn N1, sinh năm 1990; thƣờng trú: thôn C, xã B, huyện S, tỉnh Bình Định; địa chỉ: 2 đƣờng A, tổ B, khu phố E, phƣờng T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; c yêu cầu giải quyết vắng m t.

3. Ông Huỳnh T n P, sinh năm 1993; địa chỉ: E khu phố Đ, đƣờng số C, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; c yêu cầu giải quyết vắng m t.

4. Ông Nguyễn Văn Y; địa chỉ: thôn A, N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Ngƣời làm chứng:

1. Anh Bùi Đình L; vắng m t.

2 . Anh Lê Công T1; vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣ c t m tắt nhƣ sau:

Nguyễn Hữu Đ, Lê Công T1 và Bùi Đình L là đồng hƣơng với nhau. Anh T1 và anh L làm việc tại kho “Đ ng Huỳnh " tại đƣờng số I, khu công nghiệp S, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Vào ngày 22/7/2023, Nguyễn Hữu Đ đến chỗ anh T1 chơi. Do không c chỗ ngủ nên anh T1 dẫn Đ về bãi xe nơi anh T1 làm việc tại kho “Đ ng Huỳnh " và ở lại đây.

Đến khoảng 22 giờ 43 phút ngày 26/7/2023, Đ về bãi xe vào bên trong phòng container để ngủ, cửa phòng container khép lại nhƣng không chốt kh a. Đ th y bên trong container c anh Nguyễn Thanh B đang nằm ngủ, xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 48D1-217.40 của anh B đang để sát bên ngoài container, Đ th y chìa kh a xe máy đang để ở trên n c tủ lạnh sát cửa ra vào phòng container. Sau đ , Đ lén lút l y chiếc chìa kh a xe trên n c tủ lạnh, đi ra xe, mở cốp xe th y c 01 chiếc điện thoại hiệu Xiaomi Redmi màu trắng, 01 chiếc ví, mở ví l y gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô 48D1-217.40, bằng lái xe và CCCD mang tên Nguyên Thanh B1 (đều là bản chính), Đ th y bên trong ví c một số tờ tiền lẻ mệnh giá 10.000 đồng, 5.000 đồng, Đ không l y số tiền này, rồi vứt chiếc ví xuống đ t. Đ l y chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 48D1-217.40, điện thoại hiệu Xiaomi Redmi màu trắng, gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô, gi y phép lái xe và CCCD mang tên Nguyễn Thanh B.

Đến 28/7/2023, Đ đem xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 48D1-217.40 kèm gi y chứng nhận đăng ký xe đến cửa hàng xe máy “Lộc Phát”, địa chỉ số I đƣờng T phƣờng B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho anh Huỳnh Ng c S với số tiền 8.000.000 đồng. Tiếp đ , Đ bán chiếc điện thoại Xiaomi R cho một ngƣời phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực thành phố T đƣ c 600.000 đồng, bằng lái xe và CCCD vứt b . Tổng số tiền 8.600.000 đồng, Đ sử dụng vào việc chơi game và tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 18/11/2023, Nguyễn Hữu Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra làm việc với anh Huỳnh Ng c S khai nhận mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 48D1-217.40 từ Nguyễn Hữu Đ vào ngày 28/7/2023, khi mua không biết là tài sản do phạm tội mà c . Ngày 16/8/2023, anh S bán lại xe mô tô cho anh Võ Văn N1, sinh năm: 1987, thƣờng trú: xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi với giá 9.300.000 đồng. Khi mua anh N1 không biết là tài sản do phạm tội mà c nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 146 ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, kết luận 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave RSX màu đen đ biển số: 48D1-217.40 trị giá 7.500.000 đồng. Chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Notes 9S màu trắng đã qua sử dụng trị giá 2.250.000 đồng.

Tại bản kết quả giám định trích xu t dữ liệu hình ảnh đoạn video đƣ c Camera an ninh ghi lại sự việc, kết luận giám định số: 691/KL-KTHS(KTS) ngày 13/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B trích ra đƣ c 03 tập tin trên 02 trang gi y khổ A4.

Tại bản kết quả trƣng cầu giám định chữ ký, chữ viết, d u vân tay tại gi y mua bán xe đề ngày 28/7/2023, c kết quả tại bản kết luận giám định số: 711/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định:

Chữ ký viết tên "Đ", chữ viết h tên và 02 (hai) d u vân tay mang tên "Nguyễn Hữu Đ" dƣới mục "Bên bán (ký, ghi rõ h tên)" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết và d u vân tay ng n tr trái, ng n tr phải của Nguyên Hữu Đ1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M3) do cùng một ngƣời ký, viết và in ra.

- Vật chứng thu giữ, xử lý vật chứng:

+ 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba 16GB số 154515YA1184ARH31S ghi lại nội dung diễn biến sự việc, chuyển kèm theo hồ sơ.

+ 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Wave RSX biển số: 48D1-217.40, số máy: JA32E1184794, số khung: RLHJA3209EY087115, màu đen đ , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại cho anh Nguyễn Thanh B.

Đối với số tiền 700.000 đồng bị hại anh Nguyễn Thanh B khai để trong ví bị m t, Nguyễn Hữu Đ khai không chiếm đoạt số tiền này. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của anh B không c tài liệu chứng minh Đ chiếm đoạt số tiền này nên không c đủ căn cứ xử để lý.

Tại cáo trạng số 153/CT – VKS - DA ngày 12 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Xe mô tô đã thu hồi trả lại cho bị hại, điện thoại di động không thu hồi đƣ c. Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại 7.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì khác. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Anh Võ Văn N1 đã nhận số tiền 9.300.000 đồng từ anh Huỳnh Ng c S chủ cửa hàng M. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Anh Huỳnh Ng c S chủ cửa hàng X đã nhận lại số tiền 8.000.000 đồng từ Nguyễn Thanh B. Ngoài ra không yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Đ không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần n i lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời c quyền l i nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng không c ý kiến gì. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Căn cứ biên bản đầu thú, lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ c đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo nhƣ sau: Khoảng 02 giờ 43 phút ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại kho “Đ ng Huỳnh " thuộc đƣờng số I, khu công nghiệp S, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Hữu Đ lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đ biển số: 48D1-217.40 trị giá 7.500.000 đồng và 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Notes 9S màu trắng trị giá 2.250.000 đồng; tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 9.750.000 đồng của anh Nguyễn Thanh B. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 153/CT – VKS - DA ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là c căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính ch t, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm tr ng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu h p pháp về tài sản của bị hại đƣ c pháp luật bảo vệ, gây m t trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời c năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính ch t, mức độ tội phạm đã thực hiện, c xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không c .

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣ c xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng h p ít nghiêm tr ng, bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại khắc phục hậu quả, bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa c tiền án, tiền sự.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave RSX màu đen đ biển số: 48D1-217.40 trị giá 7.500.000 đồng, đã thu hồi trả cho bị hại. Điện thoại di động hiệu Redmi Notes 9S màu trắng đã qua sử dụng trị giá 2.250.000 đồng không thu hồi đƣ c. Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại tài sản bị chiếm đoạt là 7.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm. Bị cáo không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 8.000.000 đồng, bị hại đã trả cho anh S. Anh S đã trả cho anh N1 số tiền 9.300.000 đồng. Anh S và anh N1 không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Hình phạt chính: từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục, cải tạo và c tác dụng đ u tranh phòng ngừa chung. Do đ , tiếp tục duy trì lệnh c m đi kh i nơi cƣ trú số 20 ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An cho đến khi bị cáo đi ch p hành hình phạt tù.

Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tiếp tục duy trì lệnh c m đi kh i nơi cƣ trú số 20/2024/LCĐKNCT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cho đến khi bị cáo đi ch p hành hình phạt tù.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo c m t đƣ c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣ c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣ c bản án ho c bản án đƣ c niêm yết.

Cỡ chữ