- Tranh chấp gì? "K' T. Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo K’ T, Lưu Văn Th, Lâm Chánh Ng, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| T A ÁN NH N D N C NG H A X H CH NGH A V T NAM T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 136/2024/HS-PT Ngày: 29-8-2024 |
NHÂN DANH
N C C NG H A X H CH NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 98/2024/TLPT-HS ngày 03/6/2024 đ i với bị cáo K’ T cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đ i với n án hình sự sơ thẩm s 16/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: K’ T (tên gọi khác: Bí); sinh năm 1993; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn H, xã L, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 8/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Châu Mạ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: K’ L (đã chết); con bà Trần Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại b n án s 123/2011/HSPT ngày 22/12/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phúc thẩm 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2023 cho đến nay tại xã Lộc B o, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Họ và tên: Lưu Văn Th; sinh năm 1984; nơi sinh: Thanh Hóa; nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn 1, xã L, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lưu Quang L (đã chết); con bà Nguyễn Thị Y; vợ: Hoàng Thị T và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Tại b n án s 1429/2005/HSPT ngày 24/8/2005 Tòa phúc thẩm TAND t i cao tại Thành ph Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
+ Ngày 11/5/2021 bị Công an huyện B o Lâm xử phạt vi phạm hành chính 6.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và c ý làm hư hỏng tài s n (chưa nộp phạt). Hiện nay vụ việc đã được Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện B o Lâm hủy Quyết định không khởi t vụ án hình sự để điều tra lại, vụ việc đang được tạm đình chỉ kiểm tra, xác minh.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2023 cho đến nay tại xã L, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
3. Họ và tên: Lâm Chánh Ng; sinh ngày: 22/10/2000 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn 1, xã L, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 8/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Lâm Qu c D; con bà Nguyễn Thị Thu B; vợ: Trần Thị H và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2023 cho đến nay tại xã Lộc B o, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án này, còn có các bị cáo khác không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 16/4/2023, sau khi dự đám cưới tại xã Lộc B o, huyện B o Lâm, tỉnh Lâm Đồng xong thì K’H rủ K’Q, K’T, K’T1 đến nhà K’ H ăn u ng. C nhóm ngồi ở hiên trước nhà ông K’Gàng, Địa chỉ: thôn 1, xã Lộc B o, huyện B o Lâm (nhà cha vợ của K’H, nhà ông K’Gàng và nhà K’H có chung cổng chính đi vào, cách nhau bởi kho ng đất tr ng rộng 3,7m ở giữa hai nhà). Lúc này, có K’T2 và K’D đến cùng ăn u ng chung. Kho ng 17 giờ 00 cùng ngày, trong lúc nhóm của K’H đang ăn u ng thì K’T điều khiển xe ô tô di chuyển qua vị trí nhà K’H một đoạn rồi dừng xe lại. K’T đi bộ vào tới chỗ nhóm K’H đang ăn u ng. K’T hỏi K’ H về việc trước đó em của K’ T bị đánh thì giữa K’T và K’H x y ra cãi nhau. K’H dùng chân ph i đạp 01 cái trúng vào bụng của K’T làm K’T ngã ra sân đất phía trước hiên nhà ông K’Gàng.
Sau đó, K’T đứng dậy đi ra ngoài cổng và gọi điện thoại cho Lưu Văn Th (bạn của K’T) và kể cho Thạch nghe việc K’T bị K’H đánh. Một lúc sau, Thạch đi xe máy tới gặp K’T do thấy K’T đã say rượu nên Thạch nói K’T đi về rồi Thạch đi bộ vào tới vị trí nhóm K’H đang ngồi để nói chuyện. Thạch u ng 02 ly rượu cùng nhóm K’H rồi ra về, Thạch điều khiển xe máy di chuyển về hướng ngã ba Lộc B o thì gặp K’T đang ở cạnh xe ô tô của K’T, còn K’H gọi điện thoại cho K'Xuân (lúc này K’ X đang ở nhà tại thôn 3, xã Lộc B o, huyện B o Lâm) và nói về việc chuẩn bị đánh nhau thì K'Xuân đồng ý. K’Xuân lấy 01 con dao để lên gác ba ga xe máy rồi điều khiển xe di chuyển về hướng nhà K’H.
Thời điểm này, Nguyễn Nhật N (bạn của K’T) đang ở nhà tại Thôn H, xã L, huyện B o Lâm thì nhận được điện thoại của K’Sơn báo cho Nam biết việc K’T đánh nhau với K’H. Sau khi nghe điện thoại, Nam đi bộ sang nhà K’T lấy 01 gậy gỗ (có hình dáng gi ng gậy đánh bóng chạy) ở phía sau tủ lạnh và 01 con dao rựa, cán bằng tre ở bên hông nhà. Nam điện thoại cho bạn là Lâm Chánh Ng lên chở Nam và nói với Nghĩa việc K’ T bị đánh.
Cùng thời điểm này, K’Xuân đang điều khiển xe máy di chuyển từ hướng ngã ba Lộc B o tới nhà K’H, ngang qua vị trí xe máy do Nghĩa điều khiển và thấy Nam cầm gậy. Nghĩa điều khiển xe máy chở Nam sang đường và dừng ở xe ở phía sau đuôi xe ô tô của K’T một đoạn rồi c hai xu ng xe. K’T lấy con dao rựa trên xe mà Nghĩa điều khiển rồi K’T cầm dao chạy về hướng nhà K’H; Nam cầm gậy gỗ chạy theo sau K’T, Nghĩa chạy phía sau Nam. Lúc này, Thạch điều khiển xe máy vào sát hiên nhà người dân ở ven đường. Thạch mở yên xe máy lấy 01 con dao (loại dao rọc giấy) và chạy theo nhóm K’T.
Nhóm K’H đang ngồi nhậu thì K'Xuân điều khiển xe máy vào đến sân đất ở giữa nhà ông K’Gàng và K’H và nói việc nhóm của của K’ T có cầm theo hung khí. Lúc này nhóm K’H đứng dậy, K’H đi về phía cửa bên hông nhà của K’H và vào bếp lấy 01 con dao. K’Q cầm 01 con dao (loại dao thái lan) được dùng để gọt trái cây trong lúc nhậu. K’Xuân xu ng xe và lấy dao mang theo cầm trên tay. K’T1 chạy ra phía sau nhà bếp của nhà K’H lấy 01 cái cu c. K’T2 chạy ra phía sau phần sân đất giữa nhà ông K’Gàng và K’H, núp sau bụi lồ ô. K’D chạy vào trong bếp nhà K’H tr n, K’T chạy ra sau nhà K’H. Sau đó K’H cầm dao đi ra phần sân đất trước hiên nhà ông K’Gàng thì gặp K’T cầm dao đi vào hai nhóm lao vào đánh nhau. K’H vung dao chém K’T thì dao bị tuột khỏi tay làm dao văng ra ngoài đường, trúng vào chân trái của Nam (lúc này Nam chạy phía sau K’T). Thạch dùng gậy gỗ đánh 01 cái vào đầu của K’Q. K’H lấy 01 cây gỗ đánh nhau với K’T, Thạch. K’H dùng cây gỗ đánh gãy cán dao của K’T và đánh trúng người của K’T, Thạch nhiều lần. K’T1 dùng cu c bổ về phía Thạch làm lưỡi cu c trúng vào tay ph i cầm dao của Thạch làm rơi dao xu ng đất. K’T1 cúi xu ng lấy dao của Thạch thì Thạch cũng cúi xu ng giằng co dao với K’T1. K’T1 lấy được dao và cầm dao ném về phía sau thì lưỡi dao cắt trúng chân trái của K’T1. Sau đó, K’T, Thạch, Nghĩa bỏ chạy ra ngoài đường và đi về hướng đi ngã ba Lộc B o. K’H, K’T cầm cây gỗ đuổi theo ra đến gần cổng thì K’H vứt cây gỗ. Lúc này K’T2 đi ra đến sân đất trước hiên nhà K’Gàng thấy có con dao cán màu đỏ nên đã nhặt lấy. K’H thấy K’T2 cầm dao nên đã giằng lấy dao mà K’T2 đang cầm rồi K’H cầm dao đi ra ngoài đường đuổi theo nhóm của K’T nhưng không kịp. K’T2 kéo K’H vào hiên nhà của K’Gàng và giằng lấy dao ở tay của K’H rồi ném dao về phía sau nhà kho của nhà K’H nên không x y ra đánh nhau nữa.
Tại n kết luận giám định pháp y về thương tích s : 233/23, 234/23, 236/23/KLTTCT-PYLĐ ngày 26/5/2023; s 305/23, 308/23, 309/23/KLTTCT-PYLĐ ngày 22/6/2023; s 342/23/KLTTCT-PYLĐ ngày 14/7/2023 Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của K’H là 0%; của K’Q là 0%; của K’T1 là 03%, tổn thương do vật sắc gây nên; của Lâm Chánh Ng là 08%, tổn thương do vật tày gây nên; của Lưu Văn Th là 04%, tổn thương do vật sắc gây nên; của Nguyễn Nhật N là 03%, tổn thương do vật sắc gây nên và của K’T là 0%.
Ngày 28/7/2023, Lâm Chánh Ng, Lưu Văn Th và Nguyễn Nhật N đã có đơn bãi nại và không yêu cầu khởi t vụ án hình sự.
Ngày 23/5/2023, Ủy ban nhân dân xã Lộc B o, huyện B o Lâm có công văn báo cáo về vụ việc trên gây nh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tại b n Cáo trạng s 17/CT- VKSBL ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B o Lâm truy t các bị cáo K’H, K’Q, K’T, K’T1, K’ X, K’ T, Lưu Văn Th, Nguyễn Nhật N và Lâm Chánh Ng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b kho n 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại B n án hình sự sơ thẩm s 16/2024/HSST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện B o Lâm đã xử;
Tuyên b các bị cáo K’ T, K’H, K’Q, K’ Th, K’ Tân, K’ X, Lưu Văn Th, Nguyễn Nhật N và Lâm Chánh Ng phạm tội “ Gây rối trật tự công công”.
- Áp dụng kho n 2 Điều 318, điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 38 ộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo K’ T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính tù từ ngày bắt giam thi hành án.
- Áp dụng kho n 2 Điều 318, điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 38 ộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lâm Chánh Ng 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Áp dụng kho n 2 Điều 318, điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 65 ộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo K’ H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Xử phạt bị cáo K’ X 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Xử phạt bị cáo K’ Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Xử phạt bị cáo K’ T1 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Xử phạt bị cáo K’ Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án (24-4-2024).
Ngoài ra, b n án còn tuyên xử vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2024, bị cáo K T, Lâm Chánh Ng, kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 04/5/2024, bị cáo Lưu Văn Th kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung b n án sơ thẩm, khai nhận hành vi như b n án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên b n án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành t tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật T tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như b n án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo th ng nhất với nhau, phù hợp với tất c các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào kho ng 17 giờ 30 phút ngày 16/4/2023 tại thôn 1, xã Lộc B o, huyện B o Lâm, do có mâu thuẫn giữa K’T giữa K’H nên nhóm K’ T, Lưu Văn Th, Nguyễn Nhật N, Lâm Chánh Ng đã mang hung khí xu ng nhà K’H để đánh nhau với các bị cáo K' H, K' Q, K' Th, K’ T1, K’ X, các bị cáo dùng hung khí đuổi đánh nhau; quá trình điều tra xác định bị cáo K’ H hung khí gây thương tích cho Nguyễn Nhật N 3%, Lâm Chánh Ng gây thương tích 8%; K’ H và K’ T1dùng hung khí gây thương tích cho Lưu Văn Th 4%.
Các bị cáo Lâm Chánh Ng, Lưu Văn Th và Nguyễn Nhật N đã có đơn bãi nại và không yêu cầu khởi t vụ án hình sự nên Cơ quan C nh sát điều tra không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đ i với K’ H, K’ Tân, Lưu Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 23/5/2023, Ủy ban nhân dân xã Lộc B o, huyện B o Lâm có công văn báo cáo về vụ việc trên gây nh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo K’H, K’Q, K’T, K’T1, K’ X, K’ T, Lưu Văn Th, Nguyễn Nhật N và Lâm Chánh Ng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b kho n 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo K’ T, Lưu Văn Th, Lâm Chánh Ng thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i nên áp dụng điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xem xét đến hoàn c nh gia đình khó khăn bị cáo K’T, Lưu Văn Th áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo K’T, Lưu Văn Th giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết gi m nhẹ nào mới. Bị cáo Lâm Chánh Ng xuất trình xác nhận hoàn c nh gia đình khó khăn, b n thân là lao động chính nên áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy mức án mà Tòa án sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo K’ T, Lưu Văn Th, Lâm Chánh Ng, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
Tuyên b các bị cáo K’ T, Lưu Văn Th và Lâm Chánh Ng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng kho n 2 Điều 318, điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 38 ộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo K’ T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính tù từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lâm Chánh Ng 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 ộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s : 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. uộc các bị cáo K’ T, Lưu Văn Th, Lâm Chánh Ng, mỗi bị cáo ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện o Lâm (10); - VKSND huyện o Lâm (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện o Lâm (01); - Cơ quan THAHS huyện o Lâm (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - ị cáo (07); - Hồ sơ THAHS (07); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CH TỌA PH ÊN T A Đã ký Nguyễn Duy Hoài |