- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "LƯU THỊ KIM YẾN - PHẠM NGỌC LÂN"
- Tòa quyết gì? Xử : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Ngọc Lân.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án sè: 136/2018/HNGĐ- PT. Ngày : 31/8/2018 V/v: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Các Thẩm phán :
Ông Nguyễn Vũ Đông
Bà Nguyễn thị Thanh Huyền
-Thư ký phiên toà : Bà Đinh Thúy Hương - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội : Ông Nguyễn Mạnh Thắng - KSV
Ngày 31 tháng 8 năm 2018 , tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm, công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 112/2018/TLPT - HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp: Chia tài sản sau ly hôn.
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/ HNGĐ – ST, ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 213/2018/QĐPT – HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự : Nguyên đơn: Chị Lưu thị Kim Yến
,
sinh năm 1977; Trú tại : P 809 chung cư 54 – số 84 Hạ Đình – Thanh Xuân – Hà Nội. Bị đơn: Anh Phạm Ngọc Lân
sinh năm 1973; Trú tại : số 293/47 tổ 9 phường Ngọc Thụy – Long Biên – Hà Nội. Chị Yến , anh Lân có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai chị Lưu thị Kim Yến trình bày:
Chị Yến , anh Lân kết hôn năm 2002. Năm 2016, anh chị ly hôn, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 87/2016/QĐST-HNGĐ ngày 25-5-2016 có nội dung : “ Về tài sản chung : Anh chị tự thỏa thuận , không yêu cầu Tòa án giải quyết ”. Từ đó đến nay, anh chị không thoả thuận được nên chị Yến yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn. Tài sản chung vợ chồng là 01 căn nhà 04 tầng trên diện tích đất 32m2 tại địa chỉ số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội. Hiện nay, nhà đất này anh Lân đang trực tiếp quản lý. Nguồn gốc đất là do vợ chồng mua của chị Nguyễn Thị Huyền hay Nguyễn Thị Thu Huyền, toàn bộ số tiền mua khoảng 300.000.000 đồng là tiền chung của vợ chồng, không xác định rõ là phần của ai. Khi mua đất hai vợ chồng chỉ có 20.000.000 đồng, số còn lại là đi vay, trong đó chị Yến rút cổ phần trong Công ty FBS thuộc Tập đoàn GAMI, trụ sở 11, Phạm Hùng, Từ Liêm, Hà Nội số tiền 120.000.000 đồng. Vay của em rể là anh Trần Mạnh Hà khoảng 80.000.000 đồng-85.000.000 đồng. Ngoài ra, vợ chồng còn vay của của một số bạn bè nhưng chị Yến không nhớ tên, không nhớ số tiền vay cụ thể là bao nhiêu. Sau khi vay được vài năm, vợ chồng cùng nhau trả nợ hết, việc trả nợ này cũng không phân định rõ ai trả bao nhiêu. Năm 2008, vợ chồng đã xây 01 nhà cấp 4, khi xây anh Lân có vay của Ngân hàng Phương Nam số tiền 150.000.000 đồng. Số tiền này, vợ chồng cùng nhau trả hết. Năm 2014, vợ chồng phá nhà cấp 4 , xây nhà 04 tầng như hiện tại. Tổng giá trị xây dựng nhà hết khoảng 850.000.000 đồng. Khi xây vợ chồng có 100.000.000 đồng. Anh Lân vay của Ngân hàng Liên Việt 340.000.000 đồng, tiền bán ôtô của hai vợ chồng được 120.000.000 đồng. Số tiền còn lại chị Yến vay của các em gái, số tiền vay cụ thể chị Yến không nhớ.
Ngay sau khi mua đất, vợ chồng đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được UBND quận Long Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN477074 ngày 30/9/2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến. Thời điểm mua đất, xây nhà chị Yến là trưởng phòng nhân sự của Công ty quản lý quỹ An Phú của tập đoàn GAMI, thu nhập của khoảng từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Chị Yến làm ở đó từ 2003 đến đầu 2010. Đến 2010, chị Yến chuyển sang làm việc tại Công ty Tân Hồng Hà đến tháng 2/2016, thu nhập là 18.000.000 đồng /tháng.
Nay, chị Yến đề nghị Toà án phân chia mỗi người một nửa, nếu chị Yến lấy nhà thì thanh toán tiền cho anh Lân hoặc ngược lại. Ngoài tài sản là nhà đất nêu trên, chị Yến không yêu cầu phân chia tài sản nào khác.
* Anh Phạm Ngọc Lân trình bày như sau : Về thời điểm kết hôn và thủ tục ly hôn đúng như chị Yến trình bầy.
Về tài sản chung vợ chồng: Năm 2008, vợ chồng mua của chị Nguyễn Thu Huyền mảnh đất có diện tích 32m2 tại địa chỉ tổ 9, ngõ 293/47 Ngọc Thuỵ, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên. Tổng số tiền mua khoảng 280.000.000 đồng. Khi mua và trả tiền có 02 người làm chứng là anh Ngô Anh Tuấn, cán bộ Ngân hàng Phương Nam và chồng chị Huyền là anh Tuấn. Khi mua , hai vợ chồng cùng đứng tên vay tiền của Ngân hàng TMCP Phương Nam 150.000.000 đồng, vay của anh Đinh Việt Cường 150.000.000 đồng. Số tiền vay của Ngân hàng do một mình anh Lân trả hết trong thời hạn 05 năm. Số tiền vay của anh Cường, anh Lân trả làm 03 đợt vào năm 2009 và 2010, mỗi đợt 50.000.000 đồng. Tại thời điểm trả tiền mua đất, anh Lân đang làm ở hai Ngân hàng là Ngân hàng TMCP Phương Nam và Ngân hàng Liên Việt, thu nhập tại Ngân hàng TMCP Phương Nam khoảng 7.000.000 đồng, thu nhập tại Ngân hàng Liên Việt khoảng 14.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền mua đất trên, chị Yến không đóng góp.
Năm 2008, vợ chồng xây nhà cấp 4, số tiền vay trước còn dư một ít, anh Lân vay thêm của anh Trần Mạnh Hà khoảng 30.000.000 đồng. Tổng số tiền xây nhà hết khoảng 60.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền xây nhà là do anh Lân trả từ nguồn lương và thưởng tại hai ngân hàng trên. Năm 2014, vợ chồng phá nhà cấp 4, xây dựng nhà 03 tầng 1 tum, hết khoảng 400.000.000 đồng. Nguồn gốc tiền xây nhà là do vợ chồng vay của Ngân hàng Liên Việt 340.000.000 đồng và tiền riêng của anh Lân là 60.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền anh Lân trả trong thời hạn 3 năm từ 05-7-2014 đến 28-5-2017.
Khi mua đất, xây nhà hai vợ chồng cùng vay tiền nhưng bản thân chị Yến không thực hiện bất cứ nghĩa vụ trả nợ nào. Anh Lân không đồng ý chia tài sản là nhà đất cho chị Yến , chỉ chấp nhận hỗ trợ cho chị Yến = 20% giá trị nhà đất.
Tại phiên tòa, anh Lân yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm của chị Yến phải đóng góp cùng anh Lân bao gồm:
- Chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm Lưu Minh Khoa:
+ Học bán trú trên lớp hàng tháng: 800.000 đ/tháng;
+ Học thêm tiếng Anh: 400.000 đ/tháng;
+ Học thêm cô giáo chủ nhiệm: 450.000 đ/tháng;
+ Học kèm cô giáo Hương: 600.000 đ/tháng;
+ Tiền ăn: 2.000.000 đ/tháng;
+ Đóng bảo hiểm nhân thọ: 12.000.000 đ/năm;
+ Vật dụng cá nhân, y tế, các hoạt động tham gia ngoại khóa…: 10.000.000 đ/năm.
- Chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm Thế Tùng:
+ Học thêm toán, lý, hóa: 1.800.000 đ/tháng;
+ Học thêm tiếng Anh: 600.000 đ/tháng;
+ Học thêm văn: 600.000 đ/tháng;
+ Xe ôm đưa đón: 1.200.000 đ/tháng;
+ Tiền ăn: 2.500.000 đ/tháng;
+ Vật dụng cá nhân, y tế và các hoạt động tham gia ngoại khóa…: 10.000.000 đ/năm.
- Về tài sản chung là ngôi nhà tại tổ 9 Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội sau khi ly hôn anh Lân đã sửa chữa, lắp đặt thêm với những chi phí sau:
+ Sửa và thay mới cửa ra vào: 20.000.000 đ;
+ Sửa đường ống thoát nước nhà vệ sinh bị tắc và ốp lại, thay thế thiết bị nhà vệ sinh tầng 3 bị hỏng: 20.000.000 đ;
+ Thay thế sàn gỗ 3 tầng: 30.000.000 đ;
+ Sơn chống thấm toàn bộ nhà và sơn lại toàn bộ bên trong nhà do bị thấm gây ẩm mốc: 30.000.000 đ;
+ Chống thấm trần nhà do bị thấm nước: 10.000.000 đ;
+ Lắp đặt thêm mái chống nóng: 30.000.000 đ;
+ Bảo dưỡng sửa chữa cửa lan can và cửa sổ: 5.000.000 đ;
+ Sửa chữa ngăn vách tầng tum: 5.000.000 đ.
Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/ HNGĐ – ST, ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên đã quyết định như sau :
1.Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn của chị Lưu Thị Kim Yến đối với anh Phạm Ngọc Lân.
2. Xác định ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội là tài sản chung của chị Lưu Thị Kim Yến và anh Phạm Ngọc Lân.
3. Chia cho anh Phạm Ngọc Lân được quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội. Anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm thanh toán cho chị Lưu Thị Kim Yến số tiền chênh lệch tài sản là 702.310.915,39 đồng.
4. Chị Lưu Thị Kim Yến phải thanh toán cho anh Phạm Ngọc Lân 1/2 số tiền anh Lân đã trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt sau khi ly hôn là 65.719.086,5 đồng. Khấu trừ số tiền chênh lệch hai bên phải thanh toán cho nhau thì anh Phạm Ngọc Lân còn phải thanh toán cho chị Lưu Thị Kim Yến số tiền là 636.591.828 đồng.
5. Về án phí: Chị Lưu Thị Kim Yến phải chịu 32.092.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi Yến đã nộp 18.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006285 ngày 24-11-2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên. Nay, chị Yến phải nộp tiếp 14.092.000 đồng.
Anh Phạm Ngọc Lân phải chịu 32.092.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự
Sau khi xét xử sơ thẩm anh Lân kháng cáo yêu cầu Tòa án xem xét lại về việc chia tài sản không đồng ý chia mỗi người ½ , không kháng cáo nội dung nào khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm :
Chị Yến , anh Lân cùng thống nhất thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản sau ly hôn và đề nghị Tòa án ghi nhận như sau :
1. Xác định ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47 tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội – đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9 /2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến là tài sản chung của chị Lưu Thị Kim Yến và anh Phạm Ngọc Lân.
2. Anh Phạm Ngọc Lân được toàn quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3- số 293/47 tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9/2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến. Anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm thanh toán cho chị Lưu Thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31/8/2018 anh Phạm Ngọc Lân đã thanh toán cho chị Lưu thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng. Sau khi chị Lưu thị Kim Yến đã nhận đủ số tiền 400.000.000đồng do anh Phạm Ngọc Lân thanh toán , chị Yến không còn quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến nhà đất nêu trên.
Anh Lân và chị Yến đã tự bàn giao nhà đất cho nhau xong , hai bên không còn liên quan đến nhau.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm anh Lân và chị Yến đã tự thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản sau ly hôn , xét sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thầm ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của anh Phạm Ngọc Lân trong thời hạn Luật định.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Lưu Thị Kim Yến, anh Phạm Ngọc Lân thống nhất thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau như sau :
1. Xác định ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3- số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội – đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9 /2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến là tài sản chung của chị Lưu Thị Kim Yến và anh Phạm Ngọc Lân.
2. Anh Phạm Ngọc Lân được toàn quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9/2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến. Anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm thanh toán cho chị Lưu Thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31/8/2018 anh Phạm Ngọc Lân đã thanh toán cho chị Lưu thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng. Chị Lưu thị Kim Yến đã nhận đủ số tiền 400.000.000đồng do anh Phạm Ngọc Lân thanh toán. Anh Phạm Ngọc Lân đã nhận bàn giao toàn bộ nhà đất nêu trên. Chị Lưu Thị Kim Yến không còn quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47, tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội và tự lo nơi ở mới.
Anh Lân và chị Yến đã tự thi hành án xong đối với nhà đất nêu trên. Sau khi bản án án hiệu lực pháp luật anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất việc đăng ký sang tên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đối với nhà đất nêu trên.
Xét thấy sự thỏa thuận của anh Lân và chị Yến là tự nguyện và phù hợp pháp luật, tại phiên tòa anh Lân và chị Yến đã tự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng sự thỏa thuận, nên ghi nhận.
- Về án phí: Chị Yến, anh Lân có đơn xin miễn giảm án phí nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.
Từ những nhận định trên!
Căn cứ điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 148, điều 300, khoản 2 điều 308, điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điều 13 ,khoản 5 điều 27, khoản 5 điều 29 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quôc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Xử : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Ngọc Lân.
Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/ HNGĐ – ST, ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên và quyết định như sau :
1. Xác định ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47 tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội – đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9 /2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến là tài sản chung của chị Lưu Thị Kim Yến và anh Phạm Ngọc Lân.
2. Anh Phạm Ngọc Lân được toàn quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47 tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội đã được UBND Quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 477074 cấp ngày 30/9/2008 đứng tên Lưu thị Kim Yến. Anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm thanh toán cho chị Lưu Thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31/8/2018 anh Phạm Ngọc Lân đã thanh toán cho chị Lưu thị Kim Yến số tiền 400.000.000đồng. Chị Lưu thị Kim Yến đã nhận đủ số tiền 400.000.000đồng do anh Phạm Ngọc Lân thanh toán. Anh Phạm Ngọc Lân đã nhận bàn giao toàn bộ nhà đất nêu trên. Chị Lưu Thị Kim Yến không còn quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến ngôi nhà 03 tầng 01 tum trên diện tích 32m2 đất tại thửa đất số 66-1 tờ bản đồ số 3 - số 293/47 tổ 9, phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội và tự lo nơi ở mới.
Xác nhận anh Lân và chị Yến đã tự thi hành án xong đối với nhà đất nêu trên. Sau khi bản án án hiệu lực pháp luật anh Phạm Ngọc Lân có trách nhiệm đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất việc đăng ký sang tên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đối với nhà đất nêu trên.
Về án phí:
Chị Lưu Thị Kim Yến phải chịu 16.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi Yến đã nộp 18.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006285 ngày 24-11-2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên. Trả lại chị Yến số tiền 2.000.000đ.
Anh Phạm Ngọc Lân phải chịu 16.092.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm( chưa nộp). Anh Lân tự nguyện nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí nộp tại biên lai số 0470 ngày 30/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người bị thi hành án chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại điều 357,khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2017 quy định tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án xong.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 31/8/2018.
| Nơi nhận: - TAND quận Long Biên. - VKSND TP Hà nội . - Đương sự. - Lưu. | TM. Hội đồng xét xử phúc thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hồng Hạnh |