vanban.org

Bản án 136/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Cao Văn C 08 (T1) năm 08 (T1) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2025) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS SỐ 136 ( 29/4/2026) - cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2-BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2026/HS-ST
Ngày: 29/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện ( giáo viên nghỉ hưu)

Ông Nguyễn Ngọc Trứ

-Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vi Đăng Khoa- Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2026/TLST- HS ngày 27 tháng 3 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121A/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2026/HSST-QĐ ngày 24/4/2026 đối với bị cáo:

1.Bị cáo: Họ tên: Cao Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 11 tháng 5 năm 2001; Nơi sinh: tỉnh Thanh Hóa;

Số CCCD: 038201007870, cấp ngày 14/5/2023

Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Đảng viên: Không

Họ tên cha: Cao Văn T, sinh năm 1967;

Họ tên mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1974;

Vợ con: Chưa có;

Bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em ruột;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam V, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh B.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị hại: Cháu Phùng Xuân B, sinh ngày 06/12/2008 ( có đơn xin vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983

Đều cư trú: TDP K, phường V, tỉnh Bắc Ninh. ( có đơn xin vắng mặt)

*Đại diện nhà trường THPT T, phường V, tỉnh Bắc Ninh

Do ông Diêm Đăng H2 - Hiệu trưởng trường THPT T2, phường V, tỉnh Bắc Ninh đại diện ( có đơn xin vắng mặt)

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

-Anh Lý Văn H3, sinh năm 2001

( vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP S, phường N, tỉnh Bắc Ninh.

-Anh Nguyễn Minh H4, sinh năm 1995 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa

-Bà Lê Thị H, sinh năm 1974

( có mặt)

Nơi cư trú: TDP T, phường N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2025, Cao Văn C, sinh năm 2001, trú tại Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa đến ở trọ tại tổ dân phố S, phường N, tỉnh Bắc Ninh để tìm việc. Ở cùng Cao Văn C có anh Lý Văn H3, sinh năm 2001 ở xã B, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 19/12/2025, do điện thoại bị vỡ mặt kính lưng, muốn mua đổi nên C sử dụng tài khoản Facebook tên “Chung A” đăng bài lên hội nhóm mua, bán điên thoại trên Facebook tìm mua một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax đã qua sử dụng. Sau đó, anh Phùng Xuân B, sinh ngày 06/12/2008, trú tại tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh, sử dụng tài khoản facebook tên “Biên P” bình luận dưới bài viết của C là “ib”. Thấy vậy, C nhắn tin hỏi anh B bán máy như thế nào thì anh B báo đang có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax dung lượng 256GB cần bán với giá 25.500.000 đồng. C đồng ý và hẹn anh B ngày 20/12/2025 gặp tại tổ dân phố S, phường N, tỉnh Bắc Ninh để mua điện thoại.

Đến khoảng 20 giờ ngày 20/12/2025, do đã sử dụng hết số tiền để mua điện thoại nên C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại đã đặt mua của anh B. C nhắn tin hẹn gặp anh B ở khu vực gần đường ray tàu hỏa thuộc tổ dân phố S, phường N, tỉnh Bắc Ninh để giao dịch. Đồng thời, C cầm theo 01 con dao (loại dao mèo) màu đen, trắng, lưỡi dao màu trắng có chiều dài khoảng 40cm có một đầu nhọn, chuôi dao bằng gỗ, có vòng đai sắt của anh H3 để ở phòng trọ sử dụng sinh hoạt, mục đích đi đe dọa anh B để chiếm đoạt chiếc điện thoại di động. C cài dao vào cạp quần, phía trong của áo sát bụng, rồi đi bộ đến khu vực gần đường ray tàu hỏa thuộc tổ dân phố S. Sau đó, C sử dụng ứng dụng Zalo có tên “Chung A”, đăng ký bởi số thuê bao 0369.084.687 gửi vị trí cho anh B. Khoảng 15 phút sau, anh B đi xe mô tô đến gặp C. Tại đây, anh B đưa cho C xem 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, màu vàng, dung lượng 256GB. C kiểm tra thấy đúng là chiếc điện thoại như đã thoả thuận từ trước nên đồng ý mua và bỏ điện thoại của mình ra để chuyển tiền trả nhưng tài khoản không đủ tiền. Thấy vậy, anh B yêu cầu C trả lại chiếc điện thoại Iphone 16 promax. Lúc này, C cầm điện thoại của anh B đút vào túi áo khoác, còn tay phải luồn ngay vào trong áo rút một phần con dao (có vỏ để bọc lưỡi dao) đang kẹp ở cạp quần ra để lộ hết lưỡi dao cho anh B nhìn thấy. Thấy vậy, anh B bất ngờ, sợ hãi lùi về phía sau và hô hoán. Ngay sau đó, bị cáo C1 mang theo chiếc điện thoại này cùng con dao chạy dọc đường ray tàu hỏa đến cánh đồng, rồi đi vòng về phòng trọ. Quá trình tẩu thoát, C1 tự ngã vào con dao làm rách 03 ngón tay bàn tay trái, xước đầu gối chân phải. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của anh B, ngày 21/12/2025 C1 đã liên lạc với anh Nguyễn Minh H4, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa để bán chiếc điện thoại đã chiếm đoạt được với giá 22.700.000 đồng. Anh H4 dùng số tài khoản 5951672021 thuộc ngân hàng T3 của mình chuyển cho C1 02 lần tiền đến số tài khoản 1789101112 thuộc ngân hàng T3 của C1 với tổng số tiền 21.800.000 đồng, số tiền còn lại anh H4 chưa thanh toán hết. Số tiền có được từ việc bán điện thoại, C1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 22/12/2025, anh B có đơn trình báo đến Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh. Cùng ngày, Cao Văn C cũng đến Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh đầu thú, giao nộp: 01 (một) con dao có chiều dài 40,5 cm, phần lưỡi dài 25cm, có một đầu nhọn, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 4,2cm, phần tay cầm bằng gỗ dài 15cm; dao có vỏ bọc bằng gỗ, màu vàng và được quấn dây dù xung quanh vỏ dao; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng, dung lượng 256GB, phần kính bị vỡ lộ thân máy bên trong (bút lục 60). Tiến hành kiểm tra điện thoại C giao nộp phát hiện tài khoản Zalo có tên “Chung A” đăng ký bởi số điện thoại 0369.084.687, ngoài ra phát hiện tài khoản Messenger có tên “Chung A” phát sinh cuộc trò chuyện với tài khoản “Nguyễn Minh H4” về việc bán chiếc điện thoại di động Iphone 16 promax với giá 22.700.000 đồng. Kiểm tra ứng dụng ngân hàng T3 có số tài khoản 1789101112 mang tên Cao Van C2 phát sinh giao dịch nhận số tiền 18.700.000 đồng và 3.100.000 đồng từ tài khoản mang tên Nguyen Minh H5.

Ngày 22/12/2025, Công an phường N tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của anh Phùng Xuân B, phát hiện tại ứng dụng zalo đăng nhập tài khoản tên “BIÊN PHÙNG” đăng ký bởi số điện thoại 0364.153.463 có cuộc trò chuyện với tài khoản Zalo tên “Chung anh”, anh B xác định đây là tài khoản zalo của C2 dùng để gửi vị trí cho anh B đến chỗ hẹn. Ngoài ra phát hiện tại ứng dụng Messenger đăng nhập tài khoản “Biên Phùng” phát sinh cuộc trò chuyện với tài khoản có tên “Chung A”, anh B xác định đây là tài khoản mà C2 dùng để nhắn tin, thoả thuận mua bán chiếc điện thoại Iphone 16 promax của B (bút lục 98-120). Cơ quan điều tra đã cho Cao Văn C xem các nội dung kiểm tra điện thoại của anh B, C xác định các nội dung tin nhắn M và Z có tên “Chung A” chính là tài khoản C sử dụng để nhắn tin cho anh B.

Ngày 23/12/2025, anh Nguyễn Minh H4 giao nộp 01 điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng, bộ nhớ trong 256GB, đã qua sử dụng (bút lục 88). Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Văn C thu giữ 01 chiếc quần bò dài màu đen và 01 chiếc áo khoác nỉ có mũ màu đen trên ngực trái có chữ “NIKE”, đều đã qua sử dụng.

Ngày 29/12/2025, Cơ quan điều tra cho anh Phùng Văn B1 nhận dạng đối tượng phạm tội. Kết quả: anh Biên nhận ra đối tượng đã cướp chiếc điện thoại của anh B1 chính là Cao Văn C. Ngày 03/01/2025, Cơ quan điều tra cho anh Phùng Xuân B nhận dạng chiếc điện thoại do anh H4 giao nộp. Kết quả, anh Biên nhận ra đó chính là chiếc điện thoại của anh B bị C chiếm đoạt.

Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2026, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, màu vàng, dung lượng 256GB, sản xuất tháng 11 năm 2024, đã qua sử dụng thời điểm định giá ngày 20/12/2025 có giá trị là 24.000.000 đồng”.

Tại bản kết luận giám định số 65-KL-KTHS ngày 07/01/2026, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Vật gửi giám định là dao sắc nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C3, không thuộc danh mục vũ khí”.

*Tại Bản cáo trạng số 217/CT-VKS-KV2 ngày 27/3/2026, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn C thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

*Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Cao Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Cao Văn C từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 08 tháng về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2025). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

-Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao màu đen, trắng, lưỡi dao màu trắng có chiều dài khoảng 40cm, có một đầu nhọn, chuôi dao bằng gỗ, có vòng đai sắt, có phần vỏ dao bằng gỗ, màu vàng và được dây dù xung quanh vỏ bao; 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng; 01 áo khoác nỉ có mũ đen trên ngực trái có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng.

Sung công 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 14 Promax, màu G, dung lượng 256GB, phần kính lưng bị vỡ, đã qua sử dụng;

-Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

-Về dân sự: Không có

Ngoài ra quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi: Lời khai của bị cáo Cao Văn C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, Hội đồng xét xử xét thấy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/12/2025, tại khu vực tổ dân phố S, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Cao Văn C đã có hành vi dùng hung khí là 01 con dao (có chiều dài 40,5 cm, phần lưỡi dài 25cm, có một đầu nhọn, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 4,2cm, phần tay cầm bằng gỗ dài 15cm; dao có vỏ bọc bằng gỗ, màu vàng) đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc rồi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 16 Promax, màu vàng trị giá 24.000.000 đồng của anh Phùng Xuân B.

Bị cáo Cao Văn C đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi dùng hung khí đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2-Điều 168 -BLHS. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Cao Văn C theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi dùng hung khí đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của con người được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Cao Văn C thành khẩn ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

-Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã khắc phục xong đối với bị hại là cháu Phùng Xuân B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Minh H4. Cháu B và anh H4 không có yêu cầu gì. Anh Lý Văn H3 không yêu cầu bị cáo trả lại con dao mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi, bà H không yêu cầu bị cáo C trả lại số tiền mà bà đã khắc phục bồi thường cho bị cáo. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao màu đen, trắng, lưỡi dao màu trắng có chiều dài khoảng 40cm, có một đầu nhọn, chuôi dao bằng gỗ, có vòng đai sắt, có phần vỏ dao bằng gỗ, màu vàng và được dây dù xung quanh vỏ bao; 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng; 01 áo khoác nỉ có mũ đen trên ngực trái có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng.

Sung công 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 14 Promax, màu G, dung lượng 256GB, phần kính lưng bị vỡ, đã qua sử dụng;

Đối với hành vi Cao Văn C dùng hung khí là con dao có đặc điểm kể trên để thực hiện hành vi cướp tài sản: quá trình điều tra xác định C sử dụng với mục đích đe dọa khiến anh Phùng Xuân B sợ hãi để chiếm đoạt tài sản, không nhằm mục đích xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của anh B, đồng thời cũng chưa có hành vi nào gây thương tích cho anh B. Do đó, Cao Văn C không phạm tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

Đối với anh Lý Văn H3 là chủ sở hữu đối với con dao mà C sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, do anh H3 không biết việc C sử dụng con dao này làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên anh H3 không vi phạm pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Minh H4 là người mua lại chiếc điện thoại mà C chiếm đoạt được cũng không biết đây là tài sản do C phạm tội mà có nên anh H4 cũng không vi phạm pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

-Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38

- Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Cao Văn C 08 (T1) năm 08 (T1) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (23/12/2025)

Căn cứ Điều 329-Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao màu đen, trắng, lưỡi dao màu trắng có chiều dài khoảng 40cm, có một đầu nhọn, chuôi dao bằng gỗ, có vòng đai sắt, có phần vỏ dao bằng gỗ, màu vàng và được dây dù xung quanh vỏ bao; 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng; 01 áo khoác nỉ có mũ đen trên ngực trái có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng.

Sung công 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphon 14 Promax, màu G, dung lượng 256GB, phần kính lưng bị vỡ, đã qua sử dụng;

3.Về án phí:

Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Cao Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án”

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ