vanban.org

Bản án 136/2025/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H. Buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường cho bà Dương Diệu H tổng số tiền 9.

Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp giữa bà H với bà H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H. Buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường cho bà Dương Diệu H tổng số tiền 9.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2025/DS-ST
Ngày 20-8-2025
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe và tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quang Minh

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Diệu H, sinh năm 1972 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp V, xã S, tỉnh Cà Mau).

- Bị đơn: Bà Phú Ngọc H1, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Dương Diệu H trình bày: Vào ngày 03/01/2025, bà Dương Diệu H điều khiển xe mô tô đến cầu S, thuộc khóm D, thị trấn S thì bị bà P Ngọc H1 chặn đầu xe xông vào giật đứt dây nón bảo hiểm, đè bà xuống lộ, dùng tay đánh nhiều cái vào đầu và mặt gây thương tích. Vụ việc được Công an thị trấn S lập biên bản. Nay bà Dương Diệu H yêu cầu bà Phú Ngọc H1 bồi thường các khoản sau: Khoản tiền điều trị thương tích là 3.000.000 đồng; tiền mất thu nhập 3.000.000 đồng (10 ngày) và tiền tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng do hành vi của bà Ngọc H1 gây ra; bồi thường tài sản của bà Diệu H bị mất gồm một đôi bông tai vàng 18k trọng lượng 01 chỉ và tiền mặt 3.000.000 đồng.

Tại biên bản làm việc của Công an thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã S, tỉnh Cà Mau), bà Phú Ngọc H1 trình bày: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/01/2025, bà Ngọc H1 yêu cầu bà Diệu H dừng xe lại nói chuyện nhưng bà Diệu H nói để quay xe lại rồi nói chuyện. Bà Diệu H dừng xe cặp lộ, xuống xe thì bà Ngọc H1 nói “đất của nhà tao sao mày đo hoài vậy”, bà Diệu H trả lời “đất gì là đất của bà” và nói “bà lấy giấy tờ ra đi rồi hả nói chuyện”. Bà Ngọc H1 nghe bà Diệu H nói như vậy nên bức xúc và tức, dùng tay phải tát vào má bên trái của bà Diệu H 01 cái, bà Ngọc H1 và bà Diệu H tiếp tục nói chuyện về vấn đề bà Ngọc H1 không cho bà Diệu H đo đất nữa. Đang đứng nói chuyện, bà Diệu H dùng tay cầm chiếc dép đang mang đánh trúng vào mặt bên trái của bà Ngọc H1 01 cái. Sau đó, bà Ngọc H1 đè bà Diệu H xuống lộ nhựa, có dùng tay đánh vào nón bảo hiểm bà Diệu H đang đội trên đầu, sau đó bà Ngọc H1 lột nón bảo hiểm bà Diệu H đang đội trên đầu và đánh 01 cái trúng vào vùng đầu của bà Diệu H nhưng trúng vào vị trí nào thì bà Ngọc H1 không nhớ. Từ thời điểm xảy ra cự cãi đến lúc xô xát đánh nhau thì không có ai can ngăn và lại gần. Qua vụ việc trên, bà Ngọc H1 thừa nhận hành vi của bà là sai, vi phạm pháp luật. Bà Ngọc H1 xin khắc phục tiền thuốc trong thời gian bà Dương Diệu H điều trị thương tích. Việc bà Dương Diệu H trình báo lúc bị bà Ngọc H1 đánh có mất tài sản thì bà Ngọc H1 không biết và cũng không rõ tài sản gì. Bà Ngọc H1 đồng ý khắc phục tiền điều trị theo hóa đơn của bệnh viện và tiền ăn uống trong thời gian điều trị tổng cộng là 2.000.000 đồng. Các khoản còn lại theo yêu cầu của bà Dương Diệu H thì bà Ngọc H1 không đồng ý.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Về nội dung: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, Nghị định số 128/2025/NĐ-CP11/6/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 1655/NQ-UBTVQH1516/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H. Buộc bà Phú Ngọc H1 phải bồi thường cho bà Dương Diệu H tổng số tiền 9.165.000 đồng (trong đó, tiền điều trị thương tích là 3.000.000 đồng, tiền mất thu nhập 1.485.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 4.680.000 đồng). Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H về việc buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường tài sản bị mất là một đôi bông tai 01 chỉ vàng 18k, tiền mặt 3.000.000 đồng và bồi thường tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần 11.835.000 đồng. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phú Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Phú Ngọc H1.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Dương Diệu H và Công an thị trấn S (nay là Công an xã S) cung cấp, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cự cãi và đánh nhau là thực tế có xảy ra. Tại các biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính thể hiện bà Phú Ngọc H1 thừa nhận hành vi đánh bà Dương Diệu H và gây thương tích cho bà Diệu H. Do đó, việc bà Diệu H yêu cầu bà Ngọc H1 bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần do hành vi của bà Ngọc H1 gây ra là có cơ sở. Tuy nhiên, cần xem xét các khoản yêu cầu cụ thể và mức bồi thường cụ thể theo yêu cầu của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường các khoản tiền điều trị thương tích là 3.000.000 đồng: Sau khi sự việc xảy ra, bà Dương Diệu H đến Phòng khám Đ và nằm điều trị tại Bệnh viện Đ1 là thực tế có xảy ra. Theo các hóa đơn, toa thuốc điều trị, phiếu thu tiền điều trị do bà Diệu H cung cấp với tổng số tiền 3.644.302 đồng. Tuy nhiên, bà Diệu H chỉ yêu cầu 3.000.000 đồng tiền chi phí điều trị; quá trình giải quyết vụ án, bà Phú Ngọc H1 không có ý kiến về khoản bồi thường này và việc yêu cầu của nguyên đơn là có lợi cho bị đơn nên có căn cứ chấp nhận số tiền này.

Đối với yêu cầu buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 18.000.000 đồng do hành vi của bà Ngọc H1 gây ra:

- Về tiền mất thu nhập: Bà Dương Diệu H nằm viện từ ngày 03/01/2025 đến ngày 13/01/2025 là 10 ngày. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau: “Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.

Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày”.

Theo quy định tại Nghị định số 74/2024/NĐ-CP30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, Nghị định số 128/2025/NĐ-CP11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ và Nghị quyết số 1655/NQ-UBTVQH1516/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Cà Mau năm 2025 thì bảng lương tối thiểu vùng Cà Mau, đối với xã S thuộc vùng III, mức lương tối thiểu là 3.860.000 đồng.

Do bà Dương Diệu H có thu nhập không ổn định, không xác định được mức thu nhập thực tế. Do đó, cần xác định mức lương tối thiểu vùng chia cho 26 ngày để tính mỗi ngày mất thu nhập của bà Diệu H. Như vậy, 3.860.000 đồng : 26 ngày = 148.500 đồng (làm tròn)/ngày. Do bà Diệu H nằm viện 10 ngày x 148.500 đồng/ngày = 1.485.000 đồng, số tiền này được tính là số tiền mất thu nhập của bà Diệu H, cần buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường.

- Đối với việc tổn thất tinh thần: Xét giữa bà Dương Diệu H và bà Phú Ngọc H1 có mâu thuẫn với nhau từ trước, từ đó dẫn đến việc hai bên xô xác với nhau. Tuy nhiên, bà Phú Ngọc H1 đã gây thương tích trên má bà Diệu H, mặc dù thương tích nhẹ, chỉ bầm phần mềm bên ngoài, nhưng ở trên mặt, nên cũng đã ảnh hưởng đến tinh thần của bà Diệu H. Do đó, cần buộc bà Ngọc H1 bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Diệu H bằng 02 tháng lương tối thiểu với số tiền 4.680.000 đồng.

- Đối với yêu cầu buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường tài sản của bà Diệu H bị mất gồm một đôi bông tai vàng 18k trọng lượng 01 chỉ và tiền mặt 3.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ việc, bà Dương Diệu H không trực tiếp nhìn thấy bà Phú Ngọc H1 lấy tài sản trong lúc bị bà P Ngọc Hiền đánh, bà Phú Ngọc H1 trình bày chỉ có hành vi đánh bà Dương Diệu H, người chứng kiến trực tiếp vụ việc xác định không có việc bà Phú Ngọc H1 lấy tài sản của bà Dương Diệu H. Qua kiểm tra hiện trường không ghi nhận, thu giữ đồ vật tài sản gì. Bà Dương Diệu H cũng không chứng minh được tài sản của mình bị mất tại thời điểm xảy ra vụ việc. Ngoài ra, cũng không có người nào chứng kiến việc bị đơn Ngọc H1 lấy tài sản của nguyên đơn Diệu H. Do đó, việc yêu cầu bồi thường này là hoàn toàn không có cơ sở để chấp nhận.

Như đã phân tích, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H, buộc bà Phú Ngọc H1 phải bồi thường cho bà Dương Diệu H tổng số tiền 9.165.000 đồng (trong đó, tiền điều trị thương tích là 3.000.000 đồng, tiền mất thu nhập là 1.485.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 4.680.000 đồng). Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H về việc buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường tài sản của bà bị mất gồm một đôi bông tai vàng 18k trọng lượng 01 chỉ, tiền mặt 3.000.000 đồng và bồi thường tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần 11.835.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phú Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của bà Dương Diệu H được Tòa án chấp nhận là 458.250 đồng. Bà Dương Diệu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu về tài sản không được Tòa án chấp nhận là 570.000 đồng (giá vàng 18k tính án phí tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 8.400.000 đồng/chỉ).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 584, 589 và 590 Bộ luật Dân sự; áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H. Buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường cho bà Dương Diệu H tổng số tiền 9.165.000 đồng (trong đó, tiền điều trị thương tích là 3.000.000 đồng, tiền mất thu nhập là 1.485.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 4.680.000 đồng).

Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Diệu H về việc buộc bà Phú Ngọc H1 bồi thường 01 chỉ vàng 18k, tiền mặt 3.000.000 đồng và khoản chênh lệch bồi thường tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần 11.835.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Phú Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 458.250 (bốn trăm năm mươi tám nghìn hai trăm năm mươi) đồng, chưa nộp.

- Bà Dương Diệu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 570.000 (năm trăm bảy mươi nghìn) đồng. Ngày 17 tháng 4 năm 2025, bà Dương Diệu H đã nộp tạm ứng án phí 325.000 (ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tại Biên lai số 0005494 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau), đối trừ, bà Dương Diệu H còn phải nộp thêm số tiền 245.000 (hai trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà Dương Diệu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Phú Ngọc H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ