- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cường - Phạm Văn Công"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C; Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Phạm Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2024/HNGĐ -ST Ngày: 28/8/2024 (V/v Tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành ph n Hội ng
h g c :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm và bà Đỗ Kim Phụng
hư
hiên t a: Bà Đỗ Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 355/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985
Địa chỉ: ấp Thôn An Tr, xã An Th, huyện Lương T, tỉnh Bắc Ninh.
2/. Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp Huy Đ, xã Điền H, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu.
(Chị C có đơn xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C chung sống với nhau vào năm 2008, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Th, huyện Lương T, tỉnh Bắc Ninh và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh C thường xuyên đánh tôi nhiều lần, từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, anh C cũng có liên lạc qua điện thoại thăm con, còn vợ chồng thì không hòa giải được và cũng không hàn gắn được. Nay tôi xác định tôi mất niềm tin với anh Công và vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn C.
Về con chung: Chị C xác định anh chị có 02 người con chung tên Phạm Diễm H, sinh ngày 26/10/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 03/9/2015. Hiện nay cháu Hằng đang sống với anh C, còn cháu Huy đang sống với chị. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Hằng cho anh C nuôi dưỡng, chị đồng ý nuôi cháu Huy.
Về cấp dưỡng: Chị C xác định không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với anh Phạm Văn C: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh C vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh C theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án
Về nội dung vụ án: Chị C và anh C kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống không còn hạnh phúc, chị C xác định không thể tiếp tục chung sống với anh C nên yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị C được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị C xác định anh chị có 02 người con chung tên Phạm Diễm H, sinh ngày 26/10/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 03/9/2015. Hiện nay cháu H đang sống với anh C, còn cháu H đang sống với chị. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu H cho anh C nuôi dưỡng, chị đồng ý nuôi cháu H.
Về cấp dưỡng: Chị C xác định không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Phạm Văn C. Anh C có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H . Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị C có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Chị C và anh C chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã An Th, huyện Lương T, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh C bất đồng quan điểm sống khiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị C xác định vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm nhau và không tìm được biện pháp hàn gắn. Như vậy, mâu thuẫn hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh C là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị C xác định anh chị có 02 người con chung tên Phạm Diễm H, sinh ngày 26/10/2009 và Phạm Gia H, sinh ngày 03/9/2015. Hiện nay cháu Hằng đang sống với anh C, còn cháu Huy đang sống với chị C. Khi ly hôn chị C đồng ý giao cháu H cho anh C nuôi dưỡng, chị C nuôi dưỡng cháu H. Quá trình làm việc cháu H có nguyện vọng được sống với anh C, cháu H có nguyện vọng sống với chị C, nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu H cho chị anh C nuôi dưỡng, giao cháu H cho chị C là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51,53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C; Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Phạm Văn C.
2/.Về con chung: Giao cháu Phạm Diễm H, sinh ngày 26/10/2009 cho anh Phạm Văn C nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Gia H, sinh ngày 03/9/2015 cho chị Nguyễn Thị C nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.
Chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được quyền cản trở.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có
4/. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010414 ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H .
Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ H ; - Chi cục THADS huyện Đ H ; -UBND xã An Th; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |