vanban.org

Bản án 136/2024/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 27/05/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Bản án dân sự s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực t nh Nam Đ nh.

Án phí dân sự phúc th m: Bà Vũ Th H được miễn tiền án phí dân sự phúc th m. Các quyết đ nh hác của bản án s th m hông có háng cáo - háng ngh đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo háng ngh . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Qunag M - Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Bản án dân sự s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực t nh Nam Đ nh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HNGĐ-PT
Ngày 27-5-2024
V/v Chia tài sản chung sau khi ly hôn
giữa ông Mật và bà Huệ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Dũng Các thẩm phán:

Ông Mai Anh Tuấn

Ông Nguyễn Thành Công

- Thư ký phiên toà:

Ông Vũ Hoàng Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Xuân Hoàn - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại tr s Toà án nhân dân t nh Nam Đ nh t

phúc th m công hai v án hôn nhân và gia đình th lý số 26/2024/TLPT-HNGĐ ngày 16-4-2024 về việc “Chia tài sản chung sau hi ly hôn”.

Do bản án dân sự s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Đ nh b háng cáo. Theo Quyết đ nh đưa v án ra t số 206/2024/QĐ-PT ngày 25-4-2024, giữa các đư ng sự:

- Nguyên đơn: Ông Triệu Quang M (Triệu Văn M) sinh năm 1952

N i thường trú: Số 539 Huỳnh Tấn Phát hu phố 1 phường Tân Thuận Đông quận 7 thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Vũ Th H sinh năm 1952

N i thường trú: 2252B Huỳnh Tấn Phát tổ 5 ấp 3 ã Phú Xuân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Th H: Ch Triệu Th Thu H1, sinh năm 1980

Nư i thường trú: L12.01 chung cư Lô L hu dân cư Cityland phường Tân Phú quận 7 thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 17/5/2024)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Triệu Văn B sinh năm 1963;

2. Anh Triệu Văn H1 sinh năm 1986

Đều trú tại: Xóm ĐT ã NH huyện NT t nh Nam Đ nh.

Người kháng cáo: B đ n bà Vũ Th H.

(Tại phiên tòa vắng mặt: Ông Triệu Quang M, bà Vũ Thị H, chị Triệu Thị Thu H1, ông Triệu Văn B, anh Triệu Văn H1 - có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn h i iện và quá trình t tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Triệu Quang M trình bày:

Ông và bà Vũ Th H tự do tìm hiểu tự nguyện đăng ý ết hôn tại c quan có th m quyền vào năm 1976 quá trình vợ chồng chung sống có 03 con chung sau đó phát sinh mâu thuẫn. Ngày 04/02/2013 ông và bà Huệ đã được Tòa án nhân dân quận 7 Thành phố Hồ chí Minh giải quyết cho ly hôn bằng bản án số: 61/2013/QĐST-HNGĐ; Về tài sản chung ông và bà Huệ tự thỏa thuận hông yêu cầu Tòa án giải quyết trong v án.

Sau hi ly hôn: Đối với tài sản là nhà đất trong Thành phố Hồ Chí Minh ông và bà Huệ đã thỏa thuận ong hông yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Riêng đối với th a đất số 698 tờ bản đồ số 2 diện tích 260m2 tại: Xóm ĐT ã NH huyện NT t nh Nam Đ nh ông bà hông thỏa thuận được nên ông đề ngh Tòa án giải quyết phân chia theo quy đ nh của pháp luật.

Về nguồn gốc th a đất số 698: Do bố ông là ông Triệu Văn C n và mẹ là bà Lê Th R t tặng cho ông vào năm 1983 lúc đó là đất ao với diện tích 260m2. Đất có v trí: Phía Bắc giáp ngõ phía Nam giáp đường 487B phía Đông giáp nhà đất bà The và phía Tây giáp đường dong óm diện tích các cạnh c thể bao nhiêu mét ông hông biết. Đến năm 1994 ông được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất mang tên Triệu Văn M

Quá trình s d ng: Sau hi nhận đất ông và bố mẹ bỏ tiền san lấp và ây nhà cấp 4 để c thể ông bỏ ra bao nhiêu tiền đã lâu ông hông nhớ (hiện hung nhà vẫn còn) vì lúc đó ông đi bộ đội a nhà còn bà Huệ làm giáo viên cấp 2 ã Nam Thắng bà Huệ cùng các con hu tập thể của trường hông nhà. Đến năm 1986 ông đưa vợ con vào Miềm Nam lập nghiệp, nhà đất trên do bố mẹ ông đến năm 1996 bố ông chết và năm 1998 mẹ ông chết ông giao lại nhà đất cho em trai là ông Triệu Văn B trông coi hộ.

Năm 2004 ông và bà Huệ về quê có lập văn bản g i nhà đất cho ông Triệu Văn B quản lý trông coi giúp (văn bản có người làm chứng). Đến năm 2010 ông về tự bỏ tiền riêng ây từ đường trên diện tích đất mang tên ông để con cháu trong chi họ về thờ cúng c thể hết bao nhiêu tiền ông hông nhớ bà Huệ biết nhưng do bà hông nhất trí ây nên bà hông đóng góp gì. Khi ông ây từ đường anh em cùng con cháu trong dòng họ có tự nguyện tiến cúng số tiền này đã ghi trên bia đặt trong nhà thờ từ hi ây đến nay hông ai có tranh chấp gì nếu sau này các anh em con cháu trong dòng họ có ý iến gì về số tiền công đức trên ông sẽ có trách nhiệm với họ nên ông hông yêu cầu tòa án giải quyết.

Cuối năm 2013 ông Bào cưới vợ cho con trai là anh Triệu Văn H1, do nhà trật nên ông Bào in ông cho cháu Hùng nâng cấp nhà để cho vợ chồng Hùng sang

trông coi ông đồng ý. Anh Hùng đã nâng cấp công trình nhà ông (c thể Bóc vôi áo trát lại làm lại hệ thống điện âm ngăn buồng ½ làm bếp và ½ làm công trình ph p ín nâng cấp sân và tr cổng) tổng chi phí theo anh Hùng cung cấp 136.073.000 đồng là phù hợp nên ông đồng ý hi giải quyết v án sẽ hoàn lại cho anh Hùng số tiền này.

Khoảng năm 2016 về phía Tây th a đất nhà nước và nhân dân làm đường dong óm và năm 2018 về phía Nam th a đất nhà nước làm đường 487B nhưng đều hông có hồ s giải phóng mặt bằng và hông lấy vào đất được cấp của ông.

Từ hi ông Bào trông coi tiền thuế đất ông đã g i trả cho ông Bào ngoài ra hông g i hoản tiền nào hác. Nay ông Triệu Văn B yêu cầu ông và bà Huệ có trách nhiệm thanh toán tiền công trông coi tài sản cho ông theo quy đ nh của pháp luật. Ông nhất trí và tự nguyện thanh toán cho ông Bào mỗi năm 06 triệu đồng từ năm 1996 đến 2023 là 27 năm với số tiền 162.000.000 đồng.

Ông nhất trí với ết quả đo đạc th m đ nh hiện trạng s d ng đất và ết quả đ nh giá tài sản của của c quan có th m quyền ngày 28/12/2022.

Nên ông Mật đề ngh Tòa án ác đ nh th a đất số 698 tờ bản đồ số 2 diện tích 260m2 tại: Xóm ĐT ã NH huyện NT t nh Nam Đ nh là của bố mẹ đẻ (ông C n và bà R t) tặng cho riêng ông. Nếu có căn cứ ác đ nh đây là tài sản chung của vợ chồng mà phải chia theo pháp luật ông in được nhận đất và tài sản trên đất để ông về dưỡng già và làm n i thờ cúng tổ tiên vì ông là con trư ng trong gia đình. Tính tr gía tài sản hấu trừ số tiền 136.073.000 đồng hoàn trả cho anh Hùng đã bỏ ra s a chữa nhà và các công trình trên đất làm tăng giá tr tài sản của gia đình ông ông và thanh toán tiền công trông coi tài sản cho ông Bào với số tiền 6.000.000 đồng/năm. Giá tr tài sản còn lại chia theo quy đ nh của pháp luật bà Vũ Th H được hư ng bao nhiêu ông sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà Huệ đúng theo quy đ nh.

Tại tự hai ngày 14/12/2022, bản luận cứ ngày 19/12/2023 và quá trình t tụng tại Tòa án bị đơn bà Vũ Thị H trình bày:

Bà và ông Mật tự nguyện đăng ý ết hôn hợp pháp và đã được Tòa án nhân dân quận 7 Thành phố Hồ chí Minh giải quyết cho ly hôn bằng bản án số: 61/2013/QĐST-HNGĐ ngày 04/02/2013.

Về phần tài sản chung: Đối với th a đất số 698 tờ bản đồ số 2 diện tích 260m2 ã Nam Hoa huyện Nam Trực t nh Nam Đ nh ông bà hông thỏa thuận được nên chưa giải quyết.

Về nguồn gốc th a đất số 698 là của bố mẹ chồng (ông Triệu Văn C n và bà Lê Th R t) cho vợ chồng bà hông phải là tài sản tặng cho riêng ông Mật. Vì tại thời điểm đó bố mẹ chồng cho đất 04 người con trai (ông Mật ông Bào, ông Phòng và ông Phóng) còn bố mẹ trên diện tích gia đình ông Bào đang . Ông Mật hông có bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng mình việc bố mẹ cho riêng ông Mật. Để bố mẹ chồng có tiền để ây dựng nhà hiện tại là nhà ông Bào bà và ông Mật đã thống nhất với nhau biếu bố mẹ một số tiền coi như là mua đất do thời gian quá lâu và cũng hông nghĩ đến việc này nên bà hông làm giấy tờ ác nhận gì nhưng bà cam đoan sự việc bà hai là có thật. Đến 10/03/1994 ông bà đã được c quan có th m quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 205 mang tên Triệu Văn M với diện tích 260m2 tại ã Nam Hoa. Theo quy đ nh tại Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời ỳ hôn nhân nên đề ngh tòa án chia theo đúng pháp luật.

Quá trình s d ng: Sau hi được cho đất năm 1984 ông bà đã san lấp ao ây 01 căn nhà 4 gian cho mẹ con bà (do ông Mật vẫn đi bộ đội hông nhà). Kinh phí ây là sự đóng góp công sức tài chính chung của vợ chồng ông Mật bỏ tiền ra ây còn bà phải ch u trách nhiệm giám sát ây dựng thợ thuyền nuôi con. Thời điểm đó bà đang dạy trường cấp 2 ã Nam Minh chợ Thượng huyện Nam Trực t nh Nam Đ nh dậy gần nhà để tiện chăm sóc con cái và lo inh tế gia đình chứ hông phải dạy Nam Thắng như ông Mật trình bày. Bố mẹ ông Mật nhà ông Bào hông chung với mẹ con bà và bố mẹ cũng hông bỏ inh tế cho ông bà ây nhà như ông Mật trình bày mà bố mẹ ch hỗ trợ trông coi giám sát hi ông Mật hông nhà.

Về ây từ đường: Bà là người chủ động đồng ý về việc ây từ đường để có chỗ thờ ph ng tổ tiên cho hang trang sạch sẽ nhưng v trí hiện tại của từ đường là n i hông được sạch sẽ vì trước đó là chỗ gia súc (lợn gà chó) .. chứ hông phải bà hông đồng ý ây nhà thờ. Số tiền ông Mật lấy để ây từ đường là tiền chung của vợ chồng vì hông được sự nhất trí của vợ con nên ông Mật tự rút tiền bán đất trong thành phố Hồ Chí Minh về ây nhà thờ chứ hông phải tiền riêng của ông Mật.

Về yêu cầu của ông Bào yêu cầu thanh toán tiền g i giữ trông coi tài sản: Năm 1986 gia đình bà vào miền nam sinh sống lập nghiệp có g i lại nhà đất cho ông Bào trông coi hộ. Năm 2004 gia đình bà về quê ch i và có lập văn bản g i nhà ông Triệu Văn B trông coi hộ. Trong biên bản thể hiện rất rõ ông Bào hông được tự ý thay đổi hiện trạng và việc trông coi hông phát sinh chi phí gì. Nay ông Bào yêu cầu thanh toán tiền trông coi tài sản ông Mật quyết đ nh trả tiền trông coi từ năm 1996 đến 2023 là 162 triệu đồng cho bố con ông Bào hông có sự đồng ý của bà nên việc này ông Mật tự ch u trách nhiệm bà hông đồng ý. Nếu việc yêu cầu phí trông coi tài sản của bố con ông Bào được chấp thuận thì bà cũng yêu cầu anh Hùng phải trả tiền thuê nhà từ năm 2013 gia đình anh Hùng s d ng đến 2023 là 10 năm tư ng đư ng với tổng số tiền là 360 triệu (3triệu đồng/tháng 12 tháng 10 năm).

Về đề ngh thanh toán tiền chi phí cho việc nâng cấp nhà là do thỏa thuận riêng của ông Mật và anh Hùng hông được sự đồng ý của bà. Tuy nhiên việc tu bổ của anh Hùng làm tăng giá tr tài sản nên bà đồng ý hoàn lại cho anh Hùng số tiền tu bổ nhà là 136 073 000 đồng.

Từ phân tích trên bà đề ngh Hội đồng t phân chia tài sản chung của bà và ông Mật có trong thời ỳ hôn nhân đúng theo quy đ nh của pháp luật. Bà nhất trí với ết quả em t th m đ nh và đ nh giá tài sản ngày 28/12/2022; nhất trí với nguyện vọng của ông Mật in được nhận tài sản để và thờ ph ng tổ tiên. Đề ngh Tòa án giao nhà đất cho ông Mật quản lý s d ng; ông Mật phải có nghĩa v thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà.

Tại bản tự hai ngày 02/01/2023 ông Triệu Văn B trình bày:

Ông là em trai út của ông Triệu Quang M gia đình có 04 anh em trai. Khoảng năm 1980 bố mẹ ông có chia đất cho 04 anh em. Ông Mật (anh cả) và ông Phóng (anh thứ 3) được diện tích đất ao giáp đường trắng (nay là đường 487B) ông Mật được chia diện tích 260m2 còn ông và Phòng phía sau đất ông Mật và ông Phóng.

Năm 1984 vợ chồng ông Mật cùng bố mẹ ông lấp ao làm nhà để bố mẹ ông cùng inh phí làm nhà ông hông biết do ai bỏ ra còn bà Huệ và các cháu chủ yếu nhà Trường do bà Huệ dậy học ông Mật đi bộ đội đóng quân trong miền nam th nh thoảng mới về

Năm 1986 ông Mật đưa vợ con vào miền nam sinh sống bố mẹ ông nhà đất của ông Mật đến năm 1996 bố ông chết và năm 1998 mẹ ông chết sau đó ông Mật giao lại nhà đất cho ông quản lý và s d ng. Khi giao anh em hông có lập văn bản gì đến năm 2004 vợ chồng ông Mật và các con có về lập vản bản g i nhà cho ông trông coi ông hông đọc nội dung nhưng đồng ý ý vào văn bản cũng từ đó hông có văn bản nào hác.

Quá trình trông coi ông thường qu t dọn và hư ng hói tuần tiết cho nhà ấm cúng đến năm 2013 anh Hùng (con trai ông) có nguyện vọng lấy vợ do nhà ông trật nên trước hi lấy vợ cháu Hùng in ph p bác Mật cho s a nhà để lấy vợ inh phí s a chữa do cháu tự bỏ ông hông có liên quan gì. Việc cháu Hùng có hỏi bà Huệ hay hông thì ông hông biết vì lúc đó ông Mật và bà Huệ đã ly hôn từ cuối năm 2013 ông giao nhà đất của ông Mật cho anh Hùng trông coi. Quá trình trông coi ông là người đóng thuế đất hằng năm ông Mật đã g i tiền trả lại cho ông. Nếu vợ chồng ông Mật hông tranh thì ông cũng hông có ý iến gì nay ảy ra tranh chấp chia tài sản chung ông đề ngh ông Mật và bà Huệ có trách nhiệm thanh toán tiền trông coi tài sản cho ông và cháu Hùng từ năm 1996 đến nay theo quy đ nh của pháp luật.

Về nhà Thờ: Năm 2010 ông Mật về phá diện tích nhà bếp để ây nhà thờ inh phí ây dựng do ông Mật bỏ ra ông Mật hông phân bổ gì cho ai mọi người trong họ gồm 4 anh em nhà ông (ông ông Triệu Văn Phòng ông Triệu Văn Phóng) và 03 anh em thúc bá (ông Triệu Xuân Rĩ Triệu Xuân Dư ng và Triệu Văn Mộc) đều tự nguyện đóng góp số tiền đóng góp được ghi trên bia đá đặt trong nhà Thờ. Ông hông biết tổng số tiền ây từ đường hết bao nhiêu bản thân ông đóng góp 05 triệu đồng từ hi ây đến nay ông hông ai có ý iến tranh chấp gì do ông Mật a nên tuần tiết ông là người hư ng hói tổ tiên. Ông hông yêu cầu ông Mật và bà Huệ thanh toán cho ông số tiền công đức trên.

Tại bản tự hai ngày 02/01/2023 và quá trình t tụng tại Tòa án anh Triệu Văn H1 trình bày:

Anh là con trai của ông Triệu Văn B cuối năm 2013 anh lấy vợ do chung với bố mẹ và các em trật trội thấy nhà ông Mật để hông và đã uống cấp nên bố mẹ anh và anh in ph p ông Mật cho nâng cấp nhà của gia đình ông Mật để vợ chồng anh sang được ông Mật đồng ý (anh hông liên lạc với bà Huệ) nên anh đã bỏ tiền ra để nâng cấp s a chữa nhà sân cổng tường bao với tổng số tiền là 136.073.000 đồng. Nay ông Mật đề ngh phân chia tài sản chung với bà Huệ sau khi ly hôn anh hông có tranh chấp đất đai gì với ông Mật và bà Huệ đề ngh ông bà hoàn lại số tiền trên do anh đã chi trả để nâng cấp s a chữa nhà sân cổng làm tăng giá tr tài sản của ông Mật và bà Huệ theo quy đ nh.

Từ nội dung v án như trên tại bản án dân sự s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Đ nh đã quyết đ nh:

1. Căn cứ vào Điều 15 Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; Các Điều 29 37 38 45 59 60 và Điều 62 Luật hôn nhân gia đình 2014; các Điều 554 555 556 557 558 và Điều 559 Bộ luật dân sự; Điều 147 228 Bộ luật Tố t ng dân sự; điểm đ hoản 1 Điều 12 Điều 26 Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội hóa 14 quy đ nh về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án;

2. X chấp nhận yêu cầu h i iện tranh chấp về việc “Chia tài sản chung của vợ chồng sau hi ly hôn” của ông Triệu Quang M (tên gọi hác Triệu Văn M);

2.1. Giao cho ông Triệu Quang M được quyền s d ng diện tích 260m2 đất và s hữu các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà mái bằng bể nước sân nhà cổng nhà thờ sân nhà thờ và tường bao; thuộc th a đất số 698 tờ bản đồ số 2 tại Xóm ĐT ã NH huyện NT t nh Nam Đ nh. Đất có v trí: Phía Bắc giáp ngõ óm; phía Nam giáp đường t nh lộ 487B; phía Đông giáp đất nhà bà The và phía Tây giáp đường óm. Giấy chứng nhận quyền s d ng đất cấp ngày 10/3/1994 mang tên ông Triệu Văn M.

2.2. Ông Triệu Quang M có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà Vũ Th H là 1.226.134.000 đồng (Một tỷ hai trăm hai mư i sáu triệu một trăm ba mư i tư nghìn đồng chẵn).

2.3. Ông Triệu Quang M có trách nhiệm thanh toán cho anh Triệu Văn H1 136.000.000 đồng (Một trăm ba mư i sáu triệu đồng) và cho ông Triệu Văn B 54.000.000 đồng (năm mư i tư triệu đồng).

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án ong tất cả các hoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra bản án s th m còn tuyên án phí và quyền háng cáo của các đư ng sự.

Ngày 08-3-2024, bà Vũ Th H có đ n háng cáo với nội dung: Không nhất trí với nội dung của Bản án s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đề ngh Tòa án nhân dân t nh Nam Đ nh s a bản án s th m để giải quyết lại theo hướng chia tài sản chung giữa bà Huệ và ông Mật theo tỷ lệ 5/5.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà Vũ Th H ch Triệu Th Thu H1 có đ n in t vắng mặt và giữ nguyên nội dung đã trình bày tại cấp s th m giữ nguyên nội dung đ n háng cáo và đề ngh cấp phúc th m s a bản án s th m để giải quyết lại theo hướng chia tài sản chung giữa bà Huệ và ông Mật theo tỷ lệ 5/5.

- Ông Triệu Quang M có đ n in t vắng mặt ông giữ nguyên nội dung đ n h i iện và hoàn toàn nhất trí với Quyết đ nh của Bản án s th m 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Người có quyền lợi nghĩa v liên quan có đ n in vắng mặt và có quan điểm hoàn toàn nhất trí với nội dung của Bản án s th m.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý iến:

Về tố t ng: Quá trình giải quyết v án tại cấp phúc th m Th m phán và Hội đồng t đã tuân theo các quy đ nh pháp luật tố t ng dân sự. Các đư ng sự chấp hành đúng các quy đ nh pháp luật tố t ng dân sự quyền lợi của các đư ng sự được bảo đảm.

Xét nội dung háng cáo của b đ n: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s v án đ n trình bày của bà Vũ Th H; căn cứ hoản 1 Điều 308 BLTTDS đề ngh HĐXX hông chấp nhận háng cáo của bà Vũ Th H về yêu cầu chia tài sản chung theo phần 50/50, giữ nguyên bản án s th m và giải quyết án phí theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án đã được th m tra tại phiên toà căn cứ vào ết quả tranh t ng tại phiên toà Hội đồng t nhận đ nh:

Đ n háng cáo của bà Vũ Th H làm trong thời hạn luật đ nh nên được Hội đồng t

em t theo trình tự tố t ng phúc th m.

Về thủ t c tố t ng: Quá trình giải quyết v án cấp s th m đã thực hiện đầy đủ các quy đ nh của BLTTDS hông có vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng bảo đảm được quyền và nghĩa v tố t ng của các đư ng sự trong v án.

Các đư ng sự đã được Tòa án giao giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ và có đ n in t vắng mặt căn cứ hoản 2 Điều 296 BLTTDS Hội đồng t tiến hành t vắng mặt các đư ng sự.

X t nội dung háng cáo của bà Vũ Th H:

Về quan hệ pháp luật và nguồn gốc s d ng đất:

Ông Triệu Quang M và bà Vũ Th H ết hôn hợp pháp từ năm 1976 ngày 04/02/2013 đã được Tòa án nhân dân quận 7 Thành phố Hồ chí Minh giải quyết cho ly hôn bắng bản án số 67/2017/QĐST-HNGĐ; Về tài sản chung các đư ng sự tự thỏa thuận hông yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên sau khi ly hôn các đư ng sự hông thỏa thuận được với nhau đối với diện tích 260m2 đất tại ã Nam Hoa huyện Nam Trực, t nh Nam Đ nh nên ông Mật làm đ n h i iện “Chia tài sản chung của vợ chồng sau hi ly hôn”.

Diện tích 260m2 đất tại th a 698 tờ bản đồ số 2 ã Nam Hoa huyện Nam Trực có nguồn gốc là của bố mẹ đẻ ông Mật (ông Triệu Văn C n và bà Lê Th R t) tặng cho năm 1983. Năm 1994 đã được c quan có th m quyền cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất mang tên ông Triệu Văn M (tên gọi hác Triệu Quang M). Căn cứ Điều 15 Luật hôn nhân gia đình năm 1959 quy đ nh “Vợ và chồng đều có quyền s hữu hư ng th và s d ng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau hi cưới”. Do đó cấp s th m ác đ nh diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng là có căn cứ và đúng quy đ nh của pháp luật. Tuy nhiên, sau hi được cho đất ông Mật và bà Huệ có san lấp ây nhà cấp 4 công trình ph có sân cổng để thời gian ngắn đến năm 1986 ông bà hông s d ng mà đưa các con vào miền nam lập nghiệp giao tài sản cho người hác trông coi thờ cúng tổ tiên do ông Mật là con trư ng trong dòng họ. Cấp s th m căn cứ Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 1959 quy đ nh “Khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên vào tình hình tài sản và tình trạng c thể của gia đình…” và chia cho ông Mật được s hữu nhiều h n theo tỷ lệ ông Mật 7 phần và bà Huệ 3 phần giá tr quyền s d ng đất là phù hợp.

Về tài sản trên đất: Khi được bố mẹ tặng cho đất năm 1984 vợ chồng ông Mật bà Huệ lấp ao ây nhà và công trình ph cho mẹ con bà Huệ (do ông Mật đi bộ đội a nhà) ông Mật góp tiền bà Huệ góp công đến năm 1986 ông bà hông s d ng mà đưa các con vào miền nam giao tài sản cho người hác trông coi thờ cúng tổ tiên. Về nhà thờ được ây trong thời ỳ hôn nhân, ông Mật trình bày do bà Huệ hông đồng ý nên ông bỏ tiền riêng ra ây đề làm n i thờ cúng chi họ Triệu. Nhưng bà Huệ hông nhất trí với ý iến của ông Mật vì ông tự rút tiền do vợ chồng bán đất trong miền nam mang về ây nhà thờ nên đây là tài sản chung của vợ chồng. Ông Mật hông có tài liệu chứng cứ để chứng minh số tiền bỏ tiền ra ây nhà thờ là tài sản riêng của ông. Do vậy cấp s th m ác đ nh các công trình vật iến trúc trên 260m2 đất có v trí ích thước nhà mái bằng bê tông hông hung tr cổng bể nước nhà thờ sân gạch tường dậu đúng theo s đồ đo đạc hiện trạng là tài sản chung của vợ chồng là phù hợp quy đ nh của pháp luật.

Về nghĩa v thanh toán:

Các đư ng sự dều thống nhất: Ông Triệu Quang M và bà Vũ Th H hoàn lại cho anh Hùng số tiền 136.073.000 đồng (làm tròn 136.000.000 đồng) do anh Hùng bỏ ra s a chữa nâng cấp nhà và các công trình hác trên đất làm tăng giá tr tài sản của ông Mật và bà Huệ và thanh toán cho ông Triệu Văn B tiền coi giữ tài sản là 54.000.000 đồng phù hợp với quy đ nh tại các Điều 554 555 556 557 558 và Điều 559 Bộ luật dân sự. Tổng số tiền ông Mật và bà Huệ phải thanh toán cho ông Bào và anh Hùng là 190.000.000 đồng.

Về chia tài sản:

Căn cứ ết quả đ nh giá tài sản ngày 28/12/2022 ác đ nh th a đất 698 tờ bản đồ số 2 xã Nam Hoa tại thời điểm đ nh giá giá tr quyền s d ng đất là 15.000.000đ/m2 như vậy với diện tích 260m2 đất có giá tr là 3.900.000.000 đồng. Về tài sản vật iến trúc ây dựng trên đất (gồm nhà mái bằng bê tông hông hung tr cổng bể nước nhà thờ sân gạch tường dậu) tại thời điểm đ nh giá tổng giá tr s d ng còn lại là 302.268.000 đồng. Sau hi đối trừ số tiền phải thanh toán cho ông Bào và anh Hùng là 190.000.000 đồng. Cấp s th m đã chia cho ông Triệu Quang M 2.786.134.000 đồng và bà Vũ Th H 1.226.134.000 đồng là có căn cứ. Hiện nay trên diện tích đất thuộc th a 688 tờ bản đồ số 2 tại óm Đông Tân ã Nam Hoa huyện Nam Trực đã ây dựng Nhà mái bằng bể nước sân nhà cổng nhà thờ sân nhà thờ và tường bao; ông Triệu Văn M là con trư ng trong gia đình cấp s th m đã giao toàn bộ diện tích đất và các công trình trên đất cho ông Mật được quyền s d ng là hoàn toàn phù hợp. Do đó buộc ông Mật phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Th H là 1.226.134.000 đồng (Một tỷ hai trăm hai mư i sáu triệu một trăm ba mư i tư nghìn đồng chẵn).

Về án phí dân sự phúc th m: Do háng cáo hông được chấp nhận cho nên bà Vũ Th H phải nộp tiền án phí dân sự phúc th m. Tuy nhiên bà Vũ Th H sinh năm 1952 theo quy đ nh của Luật người cao tuổi thì bà Huệ là người cao tuổi có đ n in miễn tiền án phí nên căn cứ Điều 12 và 14 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy đ nh về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án miễn tiền án phí dân sự phúc th m cho bà Vũ Th H.

Các quyết đ nh hác của bản án s th m hông có háng cáo - kháng ngh Hội đồng phúc th m không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 BLTTDS; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy đ nh về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Giữ nguyên Bản án dân sự s th m số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực t nh Nam Đ nh.

2. Án phí dân sự phúc th m: Bà Vũ Th H được miễn tiền án phí dân sự phúc th m.

3. Các quyết đ nh hác của bản án s th m hông có háng cáo - háng ngh đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo háng ngh .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PH C THẨM

Cỡ chữ