| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN TỈNH!BÌNH!THUẬN! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2024/HC-ST Ngày: 15-8-2024 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!BÌNH!THUẬN
-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng; Ông Đoàn Văn Tám.
-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Cao Thị Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"tỉnh"Bình"Thuận"tham"gia"phiên"toà: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 156/2024/TLST-HC ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Người! khởi! kiện:! Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1986; Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.!
Nơi ở hiện tại: Xóm F N, thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thanh K, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người!bị!kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B; Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đ; Địa chỉ: Số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2. Ủy ban nhân dân thành phố P; Địa chỉ: Số D T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
3. Ông Lê Đình N, sinh năm 1963
4. Bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1969
Cùng địa chỉ: Khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt bà Nguyễn Thị Thanh K. Các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN
1. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Thanh K trình bày:!!
Ngày 08/11/2019, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Đình N và bà Nguyễn Thị Hải Y đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 568710, vào sổ cấp GCN: 02533 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2018 đứng tên bà Ngô Thị Ngọc V, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019, đất tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông H, bà G có nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ.
Ngày 08/10/2020, vợ chồng ông H, bà G có nhận được Thông báo số 6842/CNVPĐKĐĐ về quá trình trình giải quyết hồ sơ hành chính của vợ chồng ông bà.
Đến ngày 17/7/2023, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G nhận được Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G. Theo đó, Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng trường hợp chuyển quyền sử dụng đất của vợ chồng ông H, bà G chưa có ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của cấp có thẩm quyền liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ.
Ông bà mua đất là để an cư lập nghiệp, mục đích xây dựng nhà ở và việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông bà đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Nay Chi nhánh văn phòng Đ lấy lý do chờ có ý kiến chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền liên quan và không có thời gian cụ thể, gây thiệt hại kinh tế cho vơ chồng ông bà. Vì vậy, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết các vấn đề sau:
Hủy Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G.
Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật, tiếp tục giải quyết hồ sơ cập nhật chỉnh lý quyền sử dụng đất từ tên bà Nguyễn Thị Hải Y sang tên ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G.
2. Ý kiến của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B:
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thống nhất với ý kiến tại Công văn số 6885/CNVPĐKĐĐPT-TLTT ngày 30/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
3. Ý kiến của Chi nhánh Văn phòng Đ:
Ngày 08/11/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G tại biên nhận số 13556/TNHS.
Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Lê Đình N và bà Nguyễn Thị Hải Y theo Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 18694 ngày 08/11/2019 tại Văn phòng C đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9, diện tích 95,6 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 568710 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2018 cho bà Ngô Thị Ngọc V, cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019.
Tuy nhiên, qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở của thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CP 568710 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 4792/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Phạm Văn N1 và bà Ngô Thị N2 được chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh B. Ông Phạm Văn N1 sau khi chuyển mục đích đã thực hiện việc tách thửa (trong đó có Giấy chứng nhận số CO 667175 được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 21/9/2018), sau đó ông Phạm Văn N1 chuyển nhượng cấp đổi cho bà Ngô Thị Ngọc V và được cấp Giấy chứng nhận số CP 568710 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2018, cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: " ...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."
Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.
Như vậy, hiện nay Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 17/7/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1187/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V1 thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
4. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến đối với nội dung vụ án và xin xét xử vắng mặt trong suốt quá quá trình giải quyết vụ án.
Tại!phiên!tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 30, điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Đề nghị tuyên hủy Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ và buộc thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp:
Tại Đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 người khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật, tiếp tục giải quyết hồ sơ cập nhật chỉnh lý quyền sử dụng đất từ tên bà Nguyễn Thị Hải Y sang tên ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G.
Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT được Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành khi thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thẩm quyền của Tòa án: Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu, tổ chức của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và không có tư cách pháp nhân, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC, ngày 04/4/2015 của Bộ T1, Bộ N3 và Bộ T2. Do vậy, quyết định hành chính bị kiện mặc dù là do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành nhưng Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B được xác định là người bị kiện theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính. Văn phòng Đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 17/7/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 13/5/2024, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nộp đơn khởi kiện theo Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện số 165/TABT-HCTP của Tổ Hành chính tư pháp - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của ông bà là trong thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[4] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, ông Lê Đình N, bà Nguyễn Thị Hải Y vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung được quy định tại Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9 thuộc Giấy chứng nhận số CP 568710 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 4792/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Phạm Văn N1 và bà Ngô Thị N2 được chuyển mục đích sử dụng đất. Sau khi chuyển mục đích sử dụng đất, ông N1 đã thực hiện việc tách thửa và chuyển nhượng lại cho bà Ngô Thị Ngọc V. Bà Ngô Thị Ngọc V được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CP 568710 ngày 30/10/2018. Sau đó bà V chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y và được cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019.
Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Lê Đình N và bà Nguyễn Thị Hải Y theo Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 18694 ngày 08/11/2019 tại Văn phòng C đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9, diện tích 95,6 m2 đất ở tại nông thôn, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 568710 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2018 cho bà Ngô Thị Ngọc V, cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019.
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng thửa đất mà ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nhận chuyển nhượng trước đây có nguồn gốc chuyển mục đích sang đất ở nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B. Việc UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn là không đúng với quy hoạch sử dụng đất nên từ chối cập nhật biến động cho ông H, bà G.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013 thì:
“4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:
a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất...”
Tại khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận”.
Tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhuợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất... ”
Hơn nữa, thửa đất 1188 mà ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G nhận chuyển nhượng cũng không thuộc các trường hợp bị tạm dừng giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên hệ thống phần mềm cơ sở dữ liệu công chứng, chứng thực của tỉnh Bình Thuận. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G và ông Lê Đình N, bà Nguyễn Thị Hải Y đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật về Luật công chứng. Như vậy, thửa đất nêu trên đáp ứng đủ điều kiện chuyển nhượng và ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hải Y là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định pháp luật. Chi nhánh nhánh Văn phòng Đ cho rằng thửa đất số 1188 được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn là không đúng với quy hoạch sử dụng đất nhưng đó không phải là lỗi của người sử dụng đất. Hơn nữa, hiện nay Quyết định số 4792/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép ông Phạm Văn N1 và bà Ngô Thị N2 được chuyển mục đích sử dụng đất vẫn chưa bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ.
Xét thấy, việc từ chối thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai đối với hồ sơ nhận chuyển nhượng của ông H và bà G đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9, diện tích 95,6 m2 đất ở tại nông thôn đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình thuận tại phiên tòa.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn!cứ: Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên!xử:!
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G.
Huỷ Thông báo số 1083/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ, về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G.
Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc cập nhật biến động sang tên quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng G đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 9, diện tích 95,6 m2 đất ở tại nông thôn, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 568710 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/10/2018 cho bà Ngô Thị Ngọc V, cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hải Y ngày 14/8/2019.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng G không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông H, bà G số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000311 ngày 28/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt người khởi kiện, vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính./. Nơi"nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND tỉnh Bình Thuận;
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, THCTP.
!
Trần!Phước!Hiệu!