vanban.org

Bản án 136/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo L. Q. T 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ khi tạm giữ ngày 04 tháng 03 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Biên pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo L. Q. T 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ khi tạm giữ ngày 04 tháng 03 năm 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H. M
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HSST
Ngày 27/06/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H. M, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Sơn Hóa

2. Trần Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận

H. M, Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H. M tham gia phiên tòa: Ông Phạm

Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H. M, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/HSST ngày 08 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: L. Q. T, sinh ngày 21/5/1989; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số 39A/9 ngõ Đền Tương Thuận, phường K. T, quận Đ. Đ, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ văn hóa: 07/12; bố: Lương Xuân Hòa – Đã chết; mẹ: Nguyễn Thị Lân – Đã chết; gia đình bị can có 02 chị em, bị can là con thứ 2 trong gia đình. Nhân thân bị cáo: Không tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/3/2023, đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị hại:

1. Anh Huỳnh Quang Nhật T, sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn 1, xã Đức Phú, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

2. Anh Phạm Vũ Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: xóm 3, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn, tỉnh N B. Có mặt.

3. Anh Phạm Duy Đ, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn Nậm Mu, xã Tân Thành, Bắc Quang, tỉnh H. G. Có mặt.

4. Anh Phạm Hoàng A, sinh năm 1997; nơi cư trú: số 14 khu phố Kim Lăng, xã Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, Q. N. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Phan Thị Thúy, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số 202, phố Lê Duẩn, phường Nguyễn Du, quận H. B. T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Néi dung vô ¸n:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H. M, Thành phố Hà Nội truy tố:

Hồi 14 giờ 45 ngày 04/3/2023, tổ công tác Đội CSGT đường bộ số 14 Công an thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba Giải Phóng – Nguyễn Hữu Thọ (thuộc phường Hoàng Liệt, quận H. M, thành phố Hà Nội) phát hiện tiếng truy hô: “Cướp” của anh Huỳnh Quang Nhật Thảo (SN: 2003, trú tại: Đức Phú, Tánh Linh, Bình Thuận) đang đuổi theo L. Q. T điều khiển xe mô tô BKS: 30P9-2585. Tổ công tác ra hiệu lệnh yêu cầu người phụ nữ dừng xe để tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, thu giữ tại tay trái của L. Q. T 01 điện thoại Samsung Galaxy A70, tại chỗ Tkhai nhận chiếc điện thoại là do Tvừa giật được của anh Thảo, trên đường bỏ chạy thì bị bắt giữ. Tổ công tác đã phối hợp cùng Công an phường Hoàng Liệt tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa Tvề trụ sở công an phường để làm rõ.

Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại Samsung Galaxy A70 (do Tvừa chiếm đoạt được của anh Thảo), 01 xe mô tô PIAGIO màu trắng BKS: 30P9-2585 là xe Tdùng để di chuyển, tiếp cận anh Thảo và dùng để tẩu thoát và 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0814370004.

Tại cơ quan công an, L. Q. T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 04/3/2023, Tđiều khiển xe mô tô BKS: 30P9-2585 đi hướng Giải Phóng – Ngọc Hồi. Khi Tđi đến khu vực đường Giải Phóng, gần ngã ba Đại Từ - Giải Phóng, Tphát hiện anh Huỳnh Quang Nhật Thảo đang đi bộ trên vỉa hè nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Thảo. Tđiều khiển xe mô tô đi sát vào lề đường và gọi anh Thảo: “Em ơi, chị để quên điện thoại ở nhà, em cho chị mượn điện thoại để gọi cho mẹ chồng chị. Mẹ chồng chị từ quê lên đây”, anh Thảo nghe vậy nên đồng ý và đưa chiếc điện thoại Samsung Galaxy A70 anh Thảo đang cầm ở tay cho Tmượn. Khi đó, Ttắt máy xe, đứng cùng anh Thảo, dùng máy của anh Thảo gọi điện và nhắn tin vào số máy của Tlà 0814370004 với mục đích lấy lòng tin của anh Thảo. Do đường đông, nên Tnói với anh Thảo kê gạch để Tđưa xe lên vỉa hè, nhưng không đưa xe lên được, nên Ttiếp tục bảo anh Thảo đi bộ lên bến xe bus gần đó để đứng cho rộng, còn Tđi xe lên theo phía sau (lúc này, Tvẫn đang cầm điện thoại của anh Thảo ở tay trái). Quá trình đi theo anh Thảo, Tnhận thấy anh Thảo không chú ý, không quan sát nên Tvẫn cầm điện thoại ở tay trái và phóng xe đi luôn. Anh Thảo thấy Tphóng xe đi liền hô hoán và đuổi theo Trang, Ttiếp tục bỏ chạy, được khoảng 100m thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ số 14 Công an thành phố Hà Nội dừng xe, kiểm tra và bắt giữ.

Ngày 11/4/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H. M có bản Kết luận định giá tài sản số 95 thể hiện: Chiếc điện thoại Samsung Galaxy A70 (Tchiếm đoạt của anh Thảo nêu trên) có giá trị là 3.000.000 đồng.

Ngày 04/3/2023, anh Huỳnh Quang Nhật Thảo có đơn trình báo thể hiện nội dung thống nhất với nội dung Ttrình bày nêu trên. Xét thấy, chiếc điện thoại là tài sản hợp pháp của anh Thảo, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc điện thoại này cho anh Thảo, anh Thảo nhận lại và không có ý kiến, yêu cầu đề nghị gì khác.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - CAQ H. M đã làm rõ và Tkhai nhận ngoài vụ cướp giật trên, cũng với thủ đoạn tương tự, Tcòn thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản khác tại đường Giải Phóng, thuộc phường Hoàng Liệt, quận H. M, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Ngày 24/02/2023, L. Q. T điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, mang BKS: 30P9-2585 trên đường Giải Phóng. Tại khu vực đối diện chùa Tứ Kỳ, thuộc phường Hoàng Liệt, H. M, Hà Nội, Tphát hiện anh Phạm Vũ Đăng (SN: 2003, HKTT: Yên Lộc, Kim Sơn, Ninh Bình) đang đứng một mình ở vỉa hè, Tdừng xe ở trước khu vực anh Đăng đứng và mượn điện thoại của anh Đăng để gọi cho người nhà. Anh Đăng đồng ý và cho Tmượn chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng của mình; Lợi dụng lúc anh Đăng không để ý, Tđã điều khiển xe máy bỏ chạy. Sau đó, Tmang chiếc điện thoại này đến cửa hàng số 202 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, H. M, Hà Nội, bán cho chị Phan Thị Thúy (SN: 1979, trú tại: 202 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội) được 3.800.000 đồng.

Ngày 11/4/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H. M có bản Kết luận định giá tài sản số 95 thể hiện: Chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng (nêu trên) có giá trị là 7.000.000 đồng.

Ngày 05/3/2023, anh Phan Vũ Đăng có đơn trình báo đến công an phường Hoàng Liệt. Tại cơ quan điều tra, anh Đăng trình bày phù hợp với lời khai của Tvề đặc điểm tài sản và vị trí anh Đăng bị cướp giật tài sản. Hiện chiếc điện thoại của anh Đăng bị Tcướp giật và mang bán cho chị Thúy đã được chị Thúy bán lại cho khách vãng lai. Anh Đăng yêu cầu Tbồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

- Vụ thứ hai: Ngày 26/02/2023, L. Q. T điều khiên xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, mang BKS: 30P9-2585 trên đường Giải Phóng. Tại khu vực bến chờ xe bus trước số 79 Ngọc Hồi, thuộc phường Hoàng Liệt, H. M, Hà Nội, Tphát hiện anh Phạm Duy Đạt (SN: 2002, trú tại: Tân Thành, Bắc Giang, Hà Giang) đang đứng một mình, nên đã dừng xe trước chỗ anh Đạt và hỏi mượn chiếc điện thoại Iphone XR của anh Đạt, mục đích để gọi về cho gia đình; Lợi dụng lúc anh Đạt không để ý, Tđã điều khiển xe máy bỏ chạy. Sau đó, Tmang chiếc điện thoại này đến cửa hàng số 202 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, H. M, Hà Nội, bán cho chị Phan Thị Thúy được 3.000.000 đồng.

Ngày 11/4/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H. M có bản Kết luận định giá tài sản số 95 thể hiện: Chiếc điện thoại Iphone XR màu vàng (nêu trên) có giá trị là 5.000.000 đồng.

Ngày 06/3/2023, anh Phạm Duy Đạt có đơn trình báo đến công an phường Hoàng Liệt. Tại cơ quan điều tra, anh Đạt trình bày phù hợp với lời khai của Tvề đặc điểm tài sản và vị trí anh Đạt bị cướp giật tài sản. Hiện chiếc điện thoại của anh Đạt bị Tcướp giật và mang bán cho chị Thúy đã được chị Thúy bán lại cho khách vãng lai. Anh Đạt yêu cầu Tbồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Ngày 02/3/2023, L. Q. T điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, mang BKS: 30P9-2585 trên đường Giải Phóng. Tại khu vực đầu ngõ 1333 Giải Phóng, thuộc phường Hoàng Liệt, H. M, Hà Nội, Tphát hiện anh Phạm Hoàng Anh (SN: 1997, trú tại: số 14 khu phố Kim Lăng, Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh) đang đứng một mình, nên đã dừng xe trước chỗ anh Hoàng Anh và hỏi mượn chiếc điện thoại Xiaomi T10 Pro của anh Hoàng Anh, mục đích để gọi về cho gia đình; Lợi dụng lúc anh Hoàng Anh không để ý, Tđã điều khiển xe máy bỏ chạy. Sau đó, Tmang chiếc điện thoại này đến cửa hàng số 202 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, H. M, Hà Nội, bán cho chị Phan Thị Thúy được 1.700.000 đồng.

Ngày 11/4/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H. M có bản Kết luận định giá tài sản số 95 thể hiện: Chiếc điện thoại Xiaomi T10 Pro màu vàng (nêu trên) có giá trị là 5.000.000 đồng.

Ngày 06/3/2023, anh Phạm Hoàng Anh có đơn trình báo đến công an phường Hoàng Liệt. Tại cơ quan điều tra, anh Hoàng Anh trình bày phù hợp với lời khai của Tvề đặc điểm tài sản và vị trí anh Hoàng Anh bị cướp giật tài sản. Hiện chiếc điện thoại của anh Hoàng Anh bị Tcướp giật và mang bán cho chị Thúy đã được chị Thúy bán lại cho khách vãng lai. Anh Hoàng Anh yêu cầu Tbồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Sau khi bán các tài sản trên lấy tiền, Tđã tiêu xài cá nhân hết.

Đối với chiếc xe Piaggio Liberty màu trắng mang BKS: 30P9-2585, Tsử dụng để đi cướp giật tài sản: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Trang, do Tmua lại của anh Nguyễn Văn Dương (SN: 1992, HKTT: Số 64 ngách 9 ngõ Đền Tương Thuận, phường Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội) vào khoảng tháng 01 năm 2023 với giá 7.000.000 đồng. Hiện chiếc xe được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận H. M để chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 149/CT - VKS, ngày 07/06/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận H. M truy tố bị cáo L. Q. T về tội “Cướp giật tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (dưới đậy gọi chung là Bộ luật hinh sự năm 2015).

[2] Tại phiên tòa:

Bị cáo L. Q. T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H. M truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại có mặt tại phiên tòa trình bày khách quan, đầy đủ, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Các bị hại đều yêu cầu bị cáo bồi thường tương xứng với trị giá tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, đến nay chưa thu hồi được. Đối với bị hại vắng mặt, chủ toa phiên tòa đã công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra. Bị cáo Tnghe rõ các lời khai của họ, công nhận khai đúng sự thật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H. M giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; động cơ, mục đích và nhân thân của bị cáo Tvẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 32 đến 36 tháng tù; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô PIAGIO màu trắng BKS: 30P9-2585 và 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0814370004, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo L. Q. T thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi cướp giật tài sản của mình là đúng, nên không tranh luận.

[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.

NHÂN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H. M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H. M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi vi phạm của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo L. Q. T đúng với các lời khai tại Cơ quan tra điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với tang vật của vụ án cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 04/3/2023, tại khu vực vỉa hè đường Giải Phóng (gần ngã ba Đại Từ - Giải Phóng), bị cáo L. Q. T có hành vi cướp giật tài sản của anh Huỳnh Quang Nhật Thảo là 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A70 trị giá 3.000.000 đồng thì bị Đội cảnh sát giao thông đường bộ số 14 Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng tang vật.

Ngoài ra, từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023, tại khu vực đường Giải Phóng – Ngọc Hồi, thuộc phường Hoàng Liệt, H. M, Hà Nội, bị cáo L. Q. T đã lợi dụng sơ hở của các bị hại, thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản khác. Cụ thể, gồm:

Vụ thứ nhất: Ngày 24/02/2023, tại khu vực vỉa hè đối diện chùa Tứ Kỳ, bị cáo cướp giật của anh Phạm Vũ Đăng 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng trị giá 7.000.000 đồng (tài sản không thu hồi được). Anh Đăng yêu cầu Tbồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Ngày 26/02/2023, tại khu vực bến chờ xe bus trước số 79 đường Ngọc Hồi, bị cáo cướp giật của anh Phạm Duy Đạt 01 điện thoại Iphone XR màu vàng trị giá 5.000.000 đồng (tài sản không thu hồi được). Anh Đạt yêu cầu Tbồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Ngày 02/3/2023, tại khu vực đầu ngõ 1333 Giải Phóng, bị cáo cướp giật của anh Phạm Hoàng Anh 01 điện thoại Xiaomi T10 Pro trị giá 5.000.000 đồng (tài sản không thu hồi được). Anh Phạm Hoàng Anh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo L. Q. T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưới giật tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo L. Q. T, sinh năm 1989 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H. M truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hội đồng xét xử, xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Xác định hành vi phạm tội của bị cáo là tội phạm nghiêm trọng. Hành vi đó đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự, an toàn xã hội; làm mất lòng tin giữa con người với nhau. Ngoài ra bị cáo còn không có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình và áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo L. Q. T trước khi bị xét xử hôm nay, có nhân thân tốt, chưa tiền sự, tiền án. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo L. Q. T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với tội Cướp giật tài sản, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Song, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo L. Q. T không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng đối với bị cáo.

[4] Biên pháp tư pháp:

Qua trình điều tra, Công an tạm giữ của L. Q. T: 01 xe Piaggio Liberty màu trắng mang BKS: 30P9-2585, 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0814370004. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra: Bị cáo L. Q. T đã chiếm đoạt của anh Phạm Vũ Đăng 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng trị giá 7.000.000 đồng; của anh Phạm Duy Đạt 01 điện thoại Iphone XR màu vàng trị giá 5.000.000 đồng và của anh Phạm Hoàng Anh 01 điện thoại Xiaomi T10 Pro trị giá 5.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được các tài sản trên, bị cáo đã bán cho chị Phan Thị Thúy đến nay không thu hồi được. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại theo Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với hành vi của chị Phan Thị Thúy: quá trình điều tra xác định chị Thúy không biết về nguồn gốc những chiếc điện thoại bị cáo Tbán cho mình. Khi bán, bị cáo Tđều nói với Thúy là điện thoại cá nhân của mình. Do đó, đủ căn cứ xử lý đối với hành vi của chị Thúy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 584 và Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 89; 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo L. Q. T 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ khi tạm giữ ngày 04 tháng 03 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Biên pháp tư pháp:

2.1. Bị cáo L. Q. T phải bồi thường thiệt hại vật chất cho các bị hại: Anh Phan Vũ Đăng số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng); anh Phạm Duy Đạt 5.000.000đ (năm triệu đồng); anh Phạm Hoàng Anh 5.000.000đ (năm triệu đồng).

“Trường hợp Bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô PIAGIO màu trắng, biển kiểm soát 30P9-2585, số máy 3003859, số khung 710000036443 (theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông có số máy M398M3003859, số khung ZAPM6710000036443); 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh, đã qua sử dụng, số Imei: 358503111493558 có dán niêm phong và chữ ký xác nhận của cán bộ điều tra. Toàn bộ vật chứng trên, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận H. M, Thành phố Hà Nội, theo Lệnh nhập kho vật chứng số NK2023-0178, ngày 26/6/2023.

3. Về án phí: Bị cáo L. Q. T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo L. Q. T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trọng thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trọng thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./

Cỡ chữ