vanban.org

Bản án 136/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Văn C 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HS-ST
Ngày 16 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung.

2. Bà Bùi Thị Thuý Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2023/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST-HS ngày 04/5/2023 đối với bị cáo:

Phan Văn C, sinh năm 1993 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm T, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông Phan Văn M, sinh năm 1968 và con bà Lê Thị S, sinh năm 1970; bị cáo có 03 anh em ruột, bị cáo là thứ 3; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 29/3/2012, Toà án nhân dân Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án số 178; ngày 23/11/2012 nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, ngày 20/4/2014 chấp hành xong hình phạt tù, về bồi thường dân sự 6.667.000 đồng chưa bồi thường, qua xác minh người bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/01/2023, có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn L, sinh năm 1996; thường trú: Thôn Yên Quảng 1, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt

- Người làm chứng: 1. Ông Đinh Văn B; 2. Em Nguyễn Hoàng Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Văn C sử dụng ma tuý, khoảng 4 giờ ngày 11/01/2023 C đi bộ qua bãi xe “Long Đinh Gia Phát” địa chỉ 8/11 đường Mỹ Phước -Tân Vạn, khu phố Tân An, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, thấy bãi xe không người trông giữ. C leo rào vào trong bãi xe gặp 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Vemvipi số loại 110E, biển số 59X2 -013.31 đang dựng nhà để xe, C tiếp cận và dắt xe ra hướng cổng bãi xe, lúc này chó ở bãi xe sủa, C bỏ lại xe trèo vào capin xe ô tô trốn, lúc này anh Đinh Văn B chủ bãi xe thức dậy phát hiện khống chế C và báo công an phường Tân Đông Hiệp.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Vemvipi số loại 110E, biển số 59X2 -013.31 trả anh Trần Văn L.

Kết luận định giá tài sản số 164/BB.ĐG ngày 15/11/2021 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Vemvipi số loại 110E, biển số 59X2 -013.31, số khung 37143 -XC, số máy 037143 -MH có trị giá 3.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn L nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 160/CT – VKS ngày 24 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt) theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 15 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Bị cáo C không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình là sai, ân hận việc mình làm. Bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Phan Văn C: Khoảng 4 giờ ngày 11/01/2023 bị cáo C lén lút chiếm đoạt xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Vemvipi số loại 110E, biển số 59X2 -013.31 có trị giá 3.000.000 đồng của anh Trần Văn L, nhưng bị cáo chưa mang xe ra khỏi bãi xe thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy, hành vi trên của bị cáo C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt) được quy định tại khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C không có.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về nhân thân: Bị cáo C có nhân thân xấu thể hiện việc không có nghề nghiệp, bị cáo sử dụng ma tuý.

[5] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo C phạm tội nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại trong vụ án được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Văn L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.

[7] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, do vậy Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo C phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Văn C 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11/01/2023.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Phan Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ