vanban.org

Bản án 136/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bạch T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bạch T (02) hai năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 01/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ BẠCH TUYẾT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HS-ST
Ngày: 27-7-2023

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị T - Cán bộ hưu trí

2. Ông Phan Định Quốc - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/HSST ngày 06 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị Bạch T, Giới tính: Nữ; Sinh năm: 26/3/1952; Tại: Khánh Hòa.

Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố 8, phường Đức L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: ông Lê B; Mẹ: Nguyễn Thị M (đều đã chết); Anh chị em ruột có 03 người; Chồng: Nguyễn Trọng T, (đã chết). Con: Có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2023, đến ngày 01/4/2023 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2022, T gặp một người đàn ông tên “M” (không rõ nhân thân) mua 1.500.000 đồng ma túy đá và hẹn T đến một đường hẻm trên đường Trương Văn Ly thuộc khu phố 8, phường Đức L, thành phố P để giao nhận ma túy và tiền. Sau khi T đưa cho M 1.500.000 đồng, M đưa cho T 01 túi nylon không màu bên trong có 16 gói nylon chứa ma túy đá. T mang số ma túy này về nhà tại khu phố 8, phường Đức L cất giấu trong túi áo khoác phía trước bên phải của cháu T rồi để ở trên nền nhà mục đích có ai hỏi mua ma túy thì bán. Sau đó, T đã bán được 05 gói ma túy đá cho 05 đối tượng không rõ nhân thân với giá 200.000 đồng/gói, thu lợi 1.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23/3/2023, tổ công tác của Đội phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng Thanh Hải Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an phường Đức L, thành phố P kiểm tra, phát hiện T đang có hành vi tàng trữ trái phép số ma tuý còn lại để bán cho các con nghiện nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 túi nylon không màu có một đầu là khóa kéo bằng nhựa, kích thước (5×8,5) cm, bên trong túi nylon có chứa 11 gói nylon không màu được hàn kín xung quanh, gồm: 01 gói kích thước (2,5×3,5) cm; 01 gói kích thước (2×3,5) cm; 01 gói kích thước (2×2) cm; 01 gói kích thước (1,5×2) cm; 04 gói kích thước (1,5×3) cm; 03 gói kích thước (1,5×2,5) cm, bên trong mỗi gói đều có chứa tinh thể màu trắng; được thu giữ trong túi áo khoác phía trước bên phải để trên nền sàn trong nhà T (niêm phong ký hiệu M).

- 01 chiếc áo khoác trẻ em bằng vải màu xám đen, được thu giữ trên nền sàn trong nhà T;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số IMEI1: 866983051579118, số IMEI2: 866983051579100.

Tại Kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 28/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,6401 gam, là Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo và 11 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 2,6046 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 359, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 90/CT-VKSPT-HS ngày 30/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bạch T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Thị Bạch T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 359 và 01 chiếc áo khoác bằng vải, màu xám đen.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan; bị cáo không tranh luận và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Lê Thị Bạch T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23/3/2023, tại nhà của Lê Thị Bạch T địa chỉ số 139/25 đường Trương Văn Ly thuộc khu phố 8, phường Đức L, thành phố P, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 2,6401 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho các con nghiện thì phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, Cáo trạng số 90/CT-VKSPT-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Lê Thị Bạch T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý và luôn nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một lây lan, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội và còn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc thực hiện nhiều loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, là người trên 70 tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

Mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 359 là vật cấm lưu hành và 01 chiếc áo khoác bằng vải, màu xám đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số IMEI1: 866983051579118, số IMEI2: 866983051579100, đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại điện thoại cho T là phù hợp.

Đối với lời khai của bị cáo trước khi bị bắt bị cáo đã thực hiện bán ma túy 5 lần cho các đối tượng nghiện nhưng không có cơ sở chứng M nên khôngxem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bạch T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bạch T (02) hai năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 01/4/2023.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo khoác bằng vải, màu xám đen và số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 359 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo Nguyên, có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 108 ngày 04/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

Về án phí: Áp dụng khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Lê Thị Bạch T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo. Báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2023).

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ