vanban.org

Bản án 136/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Kỳ A được ly hôn anh Bùi Duy H.

Về con chung: Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015 cho chị Nguyễn Kỳ A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng: Anh Bùi Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa chị Nguyễn Kỳ A và anh Bùi Duy H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Kỳ A được ly hôn anh Bùi Duy H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________
Bản án số: 136/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/8/2023.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Lương Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thanh Thúy;

2. Bà Bồ Thị Thái.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 về xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kỳ A, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ X, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Anh Bùi Duy H, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ X, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 07/03/2023, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Kỳ A trình bày:

Vợ chồng tôi kết hôn ngày 07 tháng 7 năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau và anh Bùi Duy H vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị kiên quyết xin ly hôn với anh Bùi Duy H.

Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015. Nếu ly hôn nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu và không yêu cầu anh Bùi Duy H phải cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay anh H đang phải đi chấp hành án nên không có điều kiện để nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có. Chị Kỳ A cam đoan vợ chồng không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 08/6/2023 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08 tháng 6 năm 2023 bị đơn anh Bùi Duy H trình bày:

Anh Bùi Duy H xác nhận về thời gian và địa điểm kết hôn như chị Nguyễn Kỳ A đã trình bày. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, quá trình chung sống anh chị hòa thuận hạnh phúc, về mâu thuẫn vợ chồng anh cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do anh vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, bản thân anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn mong muốn đoàn tụ gia đình nhưng không có phương hướng khắc phục mâu thuẫn. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Bùi Duy H, công nhận vợ chồng có một con chung Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015. Nếu ly hôn nguyện vọng của anh là cháu hiện tại đang ở với bà ngoại nên có yêu cầu để con cho ông bà nội nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên toà ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Toà án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng dân sự theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử:

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử đã tham gia đúng thành phần như quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2023. Hội đồng xét xử, xét xử đúng trình tự, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các điều 70, 71, 72 và 209 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, do bị đơn đang chấp hành án tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, không đến tham gia phiên tòa. Việc Toà án áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Đề nghị hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kỳ A, đề nghị xử cho chị Nguyễn Kỳ A được ly hôn với anh Bùi Duy H.

- Về con chung: Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015 cho chị Nguyễn Kỳ A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chấp nhận ý kiến của chị Nguyễn Kỳ A về việc không yêu cầu anh Bùi Duy H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về tài sản riêng: Không có

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Nguyễn Kỳ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Kỳ A và anh Bùi Duy H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định, có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 3, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Hiện anh chị có tranh chấp về ly hôn xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Kỳ A có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vì anh H hiện đang chấp hành án phạt tù tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nên không hòa giải được và chị có yêu cầu không mong muốn hòa giải vợ chồng, căn cứ vào khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự xét thấy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn anh Bùi Duy H hiện đang chấp hành án tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nên không thể có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa, phiên họp do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Bùi Duy H là phù hợp với quy định của pháp luật, anh H đã đề nghị xin được giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Trước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, để đảm bảo quyền được tiếp cận, công khai, kiểm tra chứng cứ Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đã gửi công văn về việc đề nghị Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tống đạt, công khai các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho anh H, anh H đã được tiếp cận, kiểm tra các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có ý kiến gì về các tài liệu đã được tiếp cận kiểm tra.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kỳ A và anh Bùi Duy H kết hôn với nhau vào ngày 07 tháng 7 năm 2014. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vì vậy quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Kỳ A và anh Bùi Duy H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do hai bên vợ chồng không hòa hợp với nhau và anh Hưng vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án tù có thời hạn tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần; anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Kỳ A và anh Bùi Duy H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần xử cho chị Nguyễn Kỳ A được ly hôn anh Bùi Duy H.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015 chị Kỳ A có nguyễn vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, chị Kỳ A không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn anh H có nguyện vọng xin được nuôi con chung và để cho bố mẹ của mình (là ông bà nội cháu B) trực tiếp nuôi dưỡng cháu B trong quá trình anh đang phải đi chấp hành án.

Xét thấy: chị Nguyễn Kỳ A là người trưởng thành có đủ năng lực hành vi dân sự, có nơi cư trú cụ thể, có công việc làm và thu nhập ổn định, thu nhập chủ yếu từ nguồn lương của cán bộ tín dụng ngân hàng. Còn bản thân anh Bùi Duy H đang trong thời gian đi chấp hành án tại phân trại K1, Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La với thời hạn 15 năm. Tại biên bản ghi ý kiến cháu B cũng có nguyện vọng xin ở chị Kỳ A. Mặt khác cháu B còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ hơn do đó việc giao cháu B cho chị Kỳ A nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu nên cần giao cháu B cho chị Kỳ A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đề nghị của chị Nguyễn Kỳ A không yêu cầu anh Bùi Duy H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu trong hồ sơ cũng như ý kiến của chị Kỳ A tại phiên tòa thì anh chị không có tài sản chung, sau khi kết hôn anh chị về sống chung với bố mẹ chồng cũng không có đóng góp gì vào khối tài sản chung của bố mẹ chồng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản riêng và nợ chung: Không có.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Kỳ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Kỳ A được ly hôn anh Bùi Duy H.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 10/01/2015 cho chị Nguyễn Kỳ A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng: Anh Bùi Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này; không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về tài sản riêng: Không có.

5. Về nợ chung: Không có.

6. Về án phí: Chị Nguyễn Kỳ A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002649 ngày 09 tháng 5 năm 2023.

7. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Nguyễn Kỳ A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 03 tháng 8 năm 2023.

Bị đơn anh Bùi Duy H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ