vanban.org

Bản án 136/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Quang H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2022/HS-ST
Ngày: 16/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan, bà Ngô Thị Như Hoa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2022/TLST – HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2022/QĐXXST – HS ngày 01/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Quang H, sinh năm 1971;

Nơi cư trú: Tổ 15, phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quang H và bà Bùi Thị Lan (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị The, sinh năm 1977, có 01 con sinh năm 2000. Gia đình bị cáo có năm anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 29/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 13/8/2021.

Nhân thân:

- Ngày 04/8/1992 tại bản án số 37 ngày 04/8/1992 tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Binh xét xử phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm theo bản án số 30. Đã chấp hành xong phần án phí HSST, DSST và tiền tịch thu xung công quỹ Nhà nước.

- Ngày 31/10/1992 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và 24 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân. Hình phạt chung cho cả hai tội là 42 tháng tù giam. Tổng hợp với bản án số 30 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình là 66 tháng tù giam. Đã chấp hành xong phần án phí hình sự phúc thẩm và dân sự phúc thẩm.

- Năm 2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 52/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 03/9/2004. Đã chấp hành xong phần án phí HSST.

- Năm 2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 118/2005/HSST. Tòa án nhân dân tỉnh Hòa bình xử phúc thẩm xử phạt Phạm Quang H 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 12/2006/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2008. Qua xác minh, không thấy có tên Phạm Quang H là người phải thi hành án đối với hai bản án trên.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trương Thị Hải V, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ 9, phường Thái Bình, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Quang H, sinh năm 1947; Địa chỉ: Số nhà 47, phố 10, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ 1, phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2022 Phạm Quang H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II BKS: 28F6-2359 đi từ nhà đến khu Bảo tồn không gian văn hóa Mường thuộc tổ 9, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình với mục đích tìm kiếm sơ hở của chủ tài sản để trộm cắp. Sau khi mua vé vào khuôn viên khu bảo tang và đi đến bên trong Nhà thờ tổ của gia đình chị Trương Thị Hải V, trú tại tổ 9, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, H quan sát có 01 hòm kính khung nhôm bên trong đựng nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau được đặt tại chính giữa gian thờ, thấy không có ai trông coi quản lý, H lấy 01 kẹp làm bằng tre ở góc nhà thờ cạy nắp hòm kính vỡ ra rồi dung tay phải lấy phần lớn số tiền trong hòm cất giấu vào phía trong áo H đang mặc trên người, sau đó H đi bộ ra cổng thì bị bảo vệ của Bảo tàng yêu cầu kiểm tra, phát hiện, bắt giữ H cùng toàn bộ số tiền 2.750.000 đồng vừa trộm cắp được.

Tại Thông báo kết quả giám định tiền số 571/TB-HBI ngày 17/8/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh tỉnh Hòa Bình kết luận: Tổng số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền thật do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam phát hành.

Cáo trạng số 130/CT-VKS-TP ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Phạm Quang H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình Sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Phạm Quang H phạm tội "Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phạm Quang H từ 12 đến 15 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại – chị Trương Thị Hải V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc kẹp làm bằng tre H lấy tại nhà chị Vân để gắp tiền, đề nghị tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, NKS: 28F6-2359 H khai là tài sản thuộc quyền sở hữu và đăng ký tên bố đẻ là ông Phạm Quang H, đề nghị trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông H. Đồng thời buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị Vân, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên đủ cơ sở kết luận vào ngày 10/8/2022 bị cáo Phạm Quang H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Trương Thị Hải V, cụ thể là lấy 01 (một) kẹp làm bằng tre ở góc nhà thờ cạy nắp hòm kính vỡ ra rồi dung tay phải lấy phần lớn số tiền trong hòm cất giấu vào phía trong áo H đang mặc trên người. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của Phạm Quang H đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nH do lười lao động, là đối tượng nghiện chất ma túy đã cố ý lén lút thực hiện tội phạm. Bị cáo mặc dù đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nH không lấy đó làm bài học, vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân để áp dụng hình phạt.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 04/8/1992 tại bản án số 37 ngày 04/8/1992 tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm; Năm 1992 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và 24 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân. Hình phạt chung cho cả hai tội là 42 tháng tù giam. Tổng hợp với bản án số 30 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình là 66 tháng tù giam; Năm 2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 118/2005/HSST. Tòa án nhân dân tỉnh Hòa bình xử phúc thẩm xử phạt Phạm Quang H 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 12/2006/HSPT.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố đẻ của bị cáo là Phạm Quang H được tặng thưởng huân chương kháng chiến, bản thân bị cáo là đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Toàn bộ số tài sản do bị cáo H trộm cắp Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng theo quy định.

- Đối với chiếc kẹp làm bằng tre là tài sản hợp pháp của bị hại - chị Trương Thị Hải V, xét chị V không có yêu cầu, đề nghị gì và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, BKS: 28F6-2359 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Phạm Quang H, ông H không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi trộm cắp, xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông H là có căn cứ.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Trương Thị Hải V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Quang H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) kẹp làm bằng tre, kích thước 42cm x 3cm x 0,3cm, tình trạng đã qua sử dụng.

- Trả lại cho ông Phạm Quang H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, BKS: 28F6-2359, màu sơn: Nâu, số khung: HHA08043Y541840, số máy: HA08E-0541883, tình trạng đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Quang H (Khi giao nhận xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, không kiểm tra tình trạng máy bên trong xe, không giao nhận giấy tờ xe).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 11/BB ngày 09/11/2022 giữa Công an thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình)

3. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Quang H phải chịu 200.000Đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ