- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:136/2022/HS-ST Ngày: 20 - 7 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Thị Lệ
Bà Trương Thị Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn K, sinh năm: 1993, tại: An Giang; hộ khẩu thường trú: ấp Thạnh L, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở: số X khu phố Bình Đường Y, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1953 và bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1955; Có vợ Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm 1995 và có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; tiền sự: không; tiền án: - Ngày 14/05/2013 Tòa án nhân dân Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 181/2013/HSST). - Ngày 29/06/2016 Tòa án nhân dân Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 196/2016/HSST). - Ngày 02/11/2018 Tòa án nhân dân Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 209/2018/HSST); Tạm giam: 09/3/2022; (Có mặt).
Bị hại:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1959; Trú tại: căn hộ số N Chung cư Khang G, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh;(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/- Ông Vũ Xuân T2, sinh năm 1996; Trú tại: số H đường Nguyễn Tri P, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
2/- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1989; Trú tại: số G đường số A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
3/- Bà Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm 1995; Trú tại: số X đường Bình Đường Y, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 08 giờ 00 ngày 07/03/2022 ông Trần Văn T1, nơi cư trú: Căn hộ N Chung cư Khang G, quận Gò Vấp cùng gia đình ra ngoài đi công việc đến 13h00 cùng ngày ông T1 về đến nhà thì thấy ổ khóa cửa đã bị cạy bung và phát hiện trong nhà bị xáo trộn và mất tài sản. Sau khi kiểm tra thấy mất tài sản gồm: 12.000.000 đồng, 500 đô la Mỹ, 300 đô la Úc, số vàng nữ trang các loại gồm: 2,1 cây vàng SJC, 3,8 cây vàng 9999, 2,3 cây vàng 18K, 02 cây vàng nữ trang 9999, 02 hộp rượu Chivas 18, 01 bình thủy tinh nắp màu vàng đựng rượu sâm Hàn Quốc và 01 hộp nấm Đông Trùng Hạ Thảo, 01 hộp đường và 01 hộp yến sào. Tổng trị giá bị mất trộm khoảng 570.000.000 đồng. Ông T1 liền đến Công an Phường 14, quận Gò Vấp trình báo.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sátđềiu tra Công an quận Gò Vấp mời
Nguyễn Văn K đến Cơ quan điều tra để làm việc, K khai nhận do K đã đến chung cư Khang G hai lần và biết được khu vực chung cư này rất vắng vẻ vào ban ngày nên nảy sinh ý định đến đây để tìm nhà nào không có người trông coi và sơ hở trong việc quản lý tài sản sẽ đột nhập vào trộm cắp. Ngày 07/03/2022 K mang theo một cái mỏ lết (khóa vặn cờ lê) bằng kim loại màu trắng rồi đi xe mô tô đến Chung cư Khang G gửi xe trước quán cà phê phía trước chung cư, sau đó K đi lên cầu thang bộ đến tầng cuối cùng của Chung cư Khang G là tầng 11 rồi đi tìm nhà nào không có người trông coi thì đột nhập vào lấy trộm. K đi từ tầng 11 xuống tầng 07, đến trước Căn hộ N Chung cư Khang G thì K thấy căn hộ này có khóa bên ngoài cửa sắt, nhưng cửa gỗ không có khóa, K quan sát một lúc thấy không có ai ở trong nhà nên lấy cái mỏ lết giấu trong người ra vặn bẻ cái ổ khóa số vòng tròn màu đen gẫy vòng sắt. Khi bẻ được ổ khóa căn hộ này, K đột nhập vào nhà lục tìm tài sản để lấy trộm. Đầu tiên, K vô phòng ngủ lục tìm tài sản, khi thấy tủ nhựa đựng quần áo màu xanh loại 04 ngăn trong phòng cạnh cái tủ đứng bằng gỗ màu xám- trắng, K đi đến tủ quần áo 4 ngăn lục soát, tại ngăn đầu tiên từ trên xuống của tủ, phát hiện có nhiều loại trang sức như lắc đeo tay bi màu vàng, 02 đôi bông tai màu vàng và màu trắng, 01 sợi dây chuyền màu trắng (dây trơn, không có mặt), 04 chiếc nhẫn (01 chiếc nhẫn có hình con cóc màu trắng, 03 chiếc còn lại là nhẫn kiểu màu trắng), K lấy bao ny lon màu xám đựng tất cả các nữ trang này lại rồi tiếp tục lục soát thì thấy có nhiều bao lì xì đựng tiền đô la Mỹ, tiền các nước khác trên thế giới lấy bỏ vào túi áo gió đang mặc. Sau đó K lục tiếp 03 ngăn còn lại không có tài sản gì. Tiếp theo, K lục cái tủ gỗ màu xám- trắng nhưng không thấy có tài sản gì có giá trị. Cuối cùng K ra ngoài qua phòng ngủ nhỏ lục soát không có tài sản có giá trị nên đi ra phòng khách tìm tiếp, tại đây K thấy có cái tủ trưng bày ở giữa có để 01 hộp rượu CHIVAS 18, 01 bình thủy tinh nắp màu vàng đựng rượu bên trong có củ sâm và 01 hộp giấy vuông màu nâu đen bên trong có chứa hộp nấm ghi Đông Trùng Hạ Thảo, 01 hộp đường và 01 hộp nhựa hình vuông đựng yến sào. Sau khi lục soát hết căn nhà K lấy được số nữ trang để trong bao ny lon màu xám, còn hai bình rượu và hộp đựng yến, nấm K đến cạnh dàn máy may trong phòng khách lấy cái túi vải màu đỏ dựng tất cả tài sản trộm cắp được rồi xuống dưới chung cư lấy xe rồi chạy về nhà trọ ở Phòng số 1 nhà số X KP Bình Đường Y, Tp Dĩ An, Bình Dương.
Sau khi lấy trộm số tài sản trên, K đem đi đến tiệm vàng Kim T địa chỉ số Q Lê Trọng T, Bình Đường F, TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương bán được 02 đôi bông tai vàng với giá 3.700.000đ, số nữ trang còn lại do nhân viên thu mua vàng nói là vàng giả nên trên đường về K đã vứt bỏ Cơ quan điều tra không thu hồi được. Đối với số tiền 39 đô la Mỹ, vào ngày 08/3/2022, K đem đến tiệm vàng Hoàng Q tại địa chỉ số H Nguyễn Tri P, phường An Bình, TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương đổi được 720.000đ, số tiền ngoại tệ các nước K cất giấu trong túi ba lô để ở phòng trọ, khi Cơ quan điều tra khám xét đã thu giữ .
Ngoài ra, K khai vào khoảng tháng 12/2021 còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 cái máy tính xách tay màu đen (không rõ nhãn hiệu) tại Chung cư Khang G, quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh nhưng không rõ địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh tại Công an phường 14, quận Gò Vấp được biết trong tháng 12/2021 không tiếp nhận vụ việc trộm cắp tài sản là máy tính xách tay tại Chung cư Khang G, Phường 14, quận Gò Vấp như trên nên chưa đủ căn cứ để xử lý.
Đối với anh Nguyễn Văn B là nhân viên bán hàng của tiệm vàng Kim T
là người đã đứng ra mua 02 đôi bông tai của K và anh Vũ Xuân T2 là nhân viên bán hàng của tiệm vàng Hoàng Q, người đã nhận đổi 39 đô la Mỹ mua của K. Cả 2 khai không biết là tài sản do K phạm tội mà có, phù hợp với lời khai của K nên không đủ cơ sở xác định anh B và T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” .
Đối với Nguyễn Thị Trúc N là vợ của bị can Nguyễn Văn K khai nhận: K có mang về nhà 01 bình rượu có củ sâm có dòng chữ MADA IN KOREA, 01 hộp nấm Đông Trùng Hạ Thảo, 01 hộp đường và 01 hộp yến sào và 01 chai rượu Chivas Regan 18 đã gần hết rượu bên trong. N có hỏi nguồn gốc những đồ vật trên thì K nói của anh D nơi K làm việc cho K. K không có gửi cho N tiền hay vàng, nữ trang cất giữ. Vào tối ngày 07/3/2022 N được K cho 2 triệu đồng K nói là được ông chủ cho. N không biết nguồn gốc tiền số đồ vật trên là do K phạm tội mà có nên chưa đủ cơ sở xác định N có liên quan đến vụ án và có hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Vật chứng thu giữ:
- 02 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng loại 18K là tài sản bị K chiếm đoạt. K khai đem bán tại tiệm vàng Kim T - An Bình tại Chợ Việt Lập, Lê Trọng T, phường An Bình, Tp. Dĩ An với giá 3.700.000đ, phù hợp với lời khai chủ tiệm vàng Kim T. Anh Nguyễn Văn B (nhân viên bán hàng của tiệm vàng Kim T là người đã đứng ra mua 02 đôi bông tai của K) khai sau khi mua02 đôi bông của K, anh đem cho thợ nung chảy ra thành vàng cục và bán cho khách nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Căn cứK luận định giá số: 36/KL-HDĐGTS ngày 18/03/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND quận Gò Vấp kết luận 02 đôi bông tai bị K chiếm đoạt là vàng 18K, đã qua sử dụng có tổng trọng lượng 1,2 chỉ, trị giá 3.600.000 đồng.
- 01 chai rượu CHIVAS 18 (đã qua sử dụng),01 (Một) bình thủy tinh nắp vàng đựng rượu và củ sâm, có dòng chữ MADA IN KOREA, còn nguyên vẹn chưa qua sử dụng, 01 (Một) hộp giấy vuông màu nâu đen bên trong có chứa hộp nấm Đông Trùng Hạ Thảo, 01 hộp đường và 01 hộp nhựa hình vuông đựng yến sào, còn nguyên vẹn chưa qua sử dụng, Căn cứ K luận định giá số: 63/KL-HDĐGTS ngày 29/04/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND quận Gò Vấp kết luận có tổng trị giá 3.000.000 đồng.
- Đối với số tiền 39 tờ đô la Mỹ, Căn cứ công văn số 306/CV-CN9 ngày
15/03/2022 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Chi nhánh 9) xác định tỷ giá đô la Mỹ (USD) ngày 07/03/2022 có tỷ giá mua bằng tiền mặt cho USD có mệnh giá nhỏ hơn 50 USD là 22.650 đồng. Số tiền 39 đô la Mỹ mà K đã bán cho tiệm vàng Hoàng Q có giá trị quy đổi bằng tiền Việt Nam là 883.350 đồng.
- Căn cứ công văn số 395/CV-CN9 ngày 04/04/2022 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Chi nhánh 9) xác định tỷ giá đô la Úc (AUD), HongKong (HKD), Singapore (SGD) ngày 07/03/2022 có tỷ giá mua bằng tiền mặt cho đô la Úc (AUD) là 16,620 đồng, HongKong (HKD) là 2,846 đồng, Singapore (SGD) là 16,299 đồng. Số đô la nước ngoài mà K đã lấy trộm là:55 đô la Úc có giá trị quy đổi bằng tiền Việt Nam là 914.100 đồng, 40 đô la HongKong có giá trị 113.840 đồng, 08 đô la Mỹ có giá trị 181.200 đồng, 10 đô la Singapore có giá trị 162.990 đồng, tổng số tiền chiếm đoạt có giá trị quy đổi bằng tiền Việt Nam là 1.372.130 đồng.
Đối với 16 tờ tiền nước ngoài các loại không có giá trị đáng kể mà chỉ
mang tính chất lưu niệm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã thu hồi được đối với tiền là ngoại tệ như trên và đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 60/QĐ ngày 25/05/2022, trả lại cho ông T1.
- 4.420.000đ là tiền bán 02 đôi bông tai vàng và 39 đô la Mỹ K trộm cắp mà có.
- 01 cái túi xách (ba lô) màu nâu đen, phía trước có chữ “Super” nền đỏ.
- 01 áo gió màu trắng có chữ ADIDAS màu đen trước ngực, 01 áo thun ngắn tay màu xanh trắng có chữ AISR@ trước ngực, 01 quần sọt màu xanh xám, ống quần bên trái có chữ ADIDAS là quần áo K mặc khi đi trộm cắp tài sản.
- 01 mỏ lết (cờ lê) bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét K sử dụng cạy ổ khóa.
- 01 xe máy hiệu SYM – ELEGANT II màu đen-bạc, biển số: 68T1 - 025.87 (số máy: VMSACB-H 078694, số khung: RLGSC10KHBH 078694) là tài sản của K do K đứng tên chủ sở hữu.
Tất cả những đồ vật, xe mô tô trên K sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp ngày 07/03/2022 và 01 cái ổ khóa có mã số mini, bằng kim loại màu đen của bị hại đã bị K phá hỏng.
Tại bản cáo trạng số 122/CTr-VKS, ngày 23/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm g khỏan 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.
Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a,b,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 cái túi xách (ba lô) màu nâu đen, phía trước có chữ “Super” nền đỏ, 01 mỏ lết (cờ lê) bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, 01 ổ khóa bằng mã số mini bằng kim loại màu đen loại 04 số đã bị hư.
- Trả lại cho bị cáo 01 áo gió màu trắng có chữ ADIDAS màu đen trước ngực, 01 áo thun ngắn tay màu xanh trắng có chữ AISR@ trước ngực, 01 quần sọt màu xanh xám, ống quần bên trái có chữ ADIDAS.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy hiệu SYM – ELEGANT II màu
đen-bạc, biển số: 68T1 - 025.87 và 720.000 đồng (tiền bán 39 USD)
- Trả lại cho ông Trần Văn T1 3.700.000 đồng (tiền bán đôi bông tai).
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh, xét nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản và còn 02 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà mình vừa được cải tạo xong, chứng tỏ thời gian cải tạo bản án trước chưa đủ tác dụng răn đe cho bị cáo và đây cũng là tình tiết định khung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, cần thiết phải có mức án xử lý nghiêm khắc nhằm có tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi năm 2017, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại: Ông Trần Văn T1 vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện ông khai nhận tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 570.000.000 đồng, ông yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông. Tuy nhiên trong số tài sản bị mất gồm nữ trang và vàng ông không có cơ sở chứng minh nên nếu bị cáo bồi thường thì ông chấp nhận còn nếu như bị cáo không thừa nhận ông cũng không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận đã lấy trộm số tài sản như ông Th1 đã khai. Bị cáo khai nhận chỉ lấy số tài sản như sau: 02 đôi bông tai màu vàng và màu trắng, 01 sợi dây chuyền màu trắng (dây trơn, không có mặt), 04 chiếc nhẫn (01 chiếc nhẫn có hình con cóc màu trắng, 03 chiếc còn lại là nhẫn kiểu màu trắng), nhiều bao lì xì đựng tiền đô la Mỹ, tiền các nước khác trên thế giới lấy bỏ vào túi áo gió đang mặc, 01 hộp rượu CHIVAS 18, 01 bình thủy tinh nắp màu vàng đựng rượu bên trong có củ sâm và 01 hộp giấy vuông màu nâu đen bên trong có chứa hộp nấm ghi Đông Trùng Hạ Thảo, 01 hộp đường và 01 hộp nhựa hình vuông đựng yến sào. Việc ông T1 khai nhận là không có cơ sở bị cáo không đồng ý bồi thường theo như ông T1 khai, Hội đồng xét xử nhận thấy ngoài lời khai của ông T1 thì không có cơ sở chứng minh việc ông T1 bị mất số tiền và vàng như trên và ông T1 cũng không yêu cầu bồi thường số tài sản trên nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cái túi xách (ba lô) màu nâu đen, phía trước có chữ “Super” nền đỏ, 01 mỏ lết (cờ lê) bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, 01 ổ khóa bằng mã số mini bằng kim loại màu đen loại 04 số đã bị hư là dụng cụ phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 áo gió màu trắng có chữ ADIDAS màu đen trước ngực, 01 áo thun ngắn tay màu xanh trắng có chữ AISR@ trước ngực, 01 quần sọt màu xanh xám, ống quần bên trái có chữ ADIDAS là tư vật của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe máy hiệu SYM – ELEGANT II màu đen-bạc, biển số: 68T1 - 025.87 có số máy: VMSACB-H 078694, số khung: RLGSC10KHBH 078694 là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 720.000 đồng là tiền bị cáo có được từ việc lấytrộm 39 USD của ông T1, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 3.700.000 đồng là tiền bị cáo bán 02 đôi bông tai bằng vàng trộm của ông T1, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông T1.
Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khỏan 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/3/2022.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a,b,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 01 cái túi xách (ba lô) màu nâu đen, phía trước có chữ “Super” nền đỏ, 01 mỏ lết (cờ lê) bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, 01 ổ khóa bằng mã số mini bằng kim loại màu đen loại 04 số đã bị hư.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu SYM – ELEGANT II màu đen-bạc, biển số: 68T1 - 025.87 có số máy: VMSACB-H 078694, số khung: RLGSC10KHBH 078694 và số tiền 720.000 (Bảy trăm hai mươi ngàn) đồng .
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 áo gió màu trắng có chữ ADIDAS màu đen trước ngực, 01 áo thun ngắn tay màu xanh trắng có chữ AISR@ trước ngực, 01 quần sọt màu xanh xám, ống quần bên trái có chữ ADIDAS.
Trả lại cho ông Trần Văn T1 3.700.000 (Ba triệu bảy trăm ngàn) đồng.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 60/PNK, ngày 25/5/2022 của Công an quận Gò Vấp).
Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Bị hại. - Người CQLNVLQ - Lưu: HS, VP. PAGE PAGE PAGE 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoàng Ngọc Hải |