- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Kim L Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hoàng Kim L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2022/HS-ST Ngày: 30 - 12- 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen
Ông Tạ Văn Nhật
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2022/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 12 năm 2022, đối với:
- Bị cáo: Hoàng Kim L, sinh năm 1991 tại huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; ĐKHKTT và cư trú: Cụm 5, xã HH, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim L1 và bà Phạm Thị Th; có vợ (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 305 do Công an huyện ĐP lập ngày 13/10/2022; tạm giữ, tạm giam: không; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Kim L1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị Th, sinh năm 1960; Cùng địa chỉ: Cụm 5, xã HH, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Kim L sinh sống cùng với bố mẹ đẻ là ông Hoàng Kim L1 và bà Phạm Thị Th tại cụm 5, xã HH, huyện ĐP, thành phố Hà Nội. Khoảng từ ngày 15/7 đến ngày 18/7/2022, Hoàng Kim L dọn dẹp bếp của gia đình phát hiện thấy dưới gậm tủ lạnh có một túi nilon bên trong có để số tiền 100 triệu đồng là tiền bán bò của ông Hoàng Kim L1 và bà Phạm Thị Th cất giấu ở đó. Do cần tiền chi tiêu và trả nợ nên L đã lấy 80 triệu đồng còn số tiền 20 triệu L bọc lại và để vào chỗ cũ. Sau khi lấy được số tiền 80 triệu đồng, L đã trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Ngày 25/7/2022, ông L1 kiểm tra số tiền thì phát hiện bị mất 80 triệu đồng. Ông L1 đã nhờ con dâu lớn là chị Trần Thị H gọi điện thoại cho L hỏi về số tiền thì L thừa nhận đã lấy số tiền trên nhưng mang cho người khác vay chưa đòi được. Do bực tức việc L lấy trộm tiền nên ông L1 đã trình báo tại Công an xã HH.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Kim L khai nhận: Khi L dọn nhà và kéo tủ lạnh ra để lau chùi thì thấy một túi nilon màu trắng, mở ra thì thấy bên trong có bốn cọc tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam. L bỏ ra đếm được tổng số tiền là 100 triệu đồng. L biết đây là tiền của bố, mẹ L bán bò có được. L đã lấy 80 triệu đồng và cất lại 20 triệu đồng vào vị trí cũ. Khi L lấy tiền thì chỉ có một mình L ở nhà nên không có ai biết. L không có công sức gì trong số tiền của bố, mẹ L.
Bản Cáo trạng số 136/CT- VKS- ĐP ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội truy tố Hoàng Kim L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình chỉ Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị hại thừa nhận bị cáo đã trả lại cho ông, bà 80 triệu đồng. Do bị cáo còn đang phải nuôi hai con nhỏ ăn học, ông bà đã già yếu không giúp đỡ được nhiều nên ông bà đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP đã thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ đúng trình tự tố tụng, nội dung và các căn cứ để ban hành các văn bản và quyết định tố tụng đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Kim L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hoàng Kim L chung sống cùng nhà với bố mẹ đẻ là ông Hoàng Kim L1 và bà Phạm Thị Th. Vào khoảng thời gian từ ngày 15/7/2022 đến ngày 18/7/2022, trong lúc dọn dẹp nhà cửa, Hoàng Kim L đã phát hiện thấy số tiền 100 triệu đồng của ông L1 và bà Th được bọc trong túi nilon để dưới gậm tủ lạnh trong bếp của nhà mình ở tại cụm 5, xã HH, huyện ĐP. Thấy ngoài mình ra trong nhà không còn ai khác, Hoàng Kim L đã lấy đi 80 triệu đồng và đi thuê nhà nghỉ để ở và chi tiêu hết số tiền trên. Ngày 25/8/2022, ông L1 kiểm tra số tiền thì phát hiện bị mất 80 triệu đồng và trình báo công an.
Hành vi của Hoàng Kim L, lợi dụng ông Hoàng Kim L1 và bà Phạm Thị Th đi vắng không có nhà đã lén lút chiếm đoạt của ông L1 và bà Th số tiền 80 triệu đồng như nêu trên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo vệ. Bản thân bị cáo là một thành viên trong gia đình và vẫn đang phải sống nhờ sự hỗ trợ giúp đỡ của bố, mẹ để nuôi sống bản thân và nuôi con. Bị cáo tuổi còn trẻ, có sức khỏe để lao động kiếm sống phục vụ nhu cầu của bản thân nhưng lại chỉ muốn thỏa mãn nhu cầu, ham muốn của bản thân mà không chịu khó lao động nên mặc dù biết rõ số tiền 80 triệu đồng là của bố mẹ mình vất vả một thời gian dài mới tích cóp được nhưng bị cáo vẫn cố tình lấy trộm và chi tiêu cho nhu cầu ăn chơi của bản thân trong thời gian rất ngắn hết số tiền đó. Do đó, lẽ ra Hội đồng xét xử cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng tài sản của người khác, ý thức chấp hành pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã hoàn trả số tiền 80 triệu đồng cho ông L1 và bà Th. Ông L1, bà Th cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có có hoàn cảnh khó khăn đang phải nuôi dưỡng hai con nhỏ ăn, học do vợ chồng bị cáo đã ly hôn. Vì vậy, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, người bị hại lại là bố mẹ đẻ của bị cáo, nên Hội đồng xét xử cân nhắc không buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng, chống tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có điều kiện kinh tế để thi hành án nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã hoàn trả cho ông L1 và bà Th số tiền 80 triệu đồng, ông L1 và bà Th không có yêu cầu đề nghị về trách nhiệm bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Kim L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
Giao bị cáo Hoàng Kim L cho Ủy ban nhân dân xã HH, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện ĐP; - CQTHAHS huyện ĐP; - CCTHADS huyện ĐP; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |