- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh G với chị Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh G và chị D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2022/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2022 V/v: “Ly hôn giữa anh G và chị D |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Luân
2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2022/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2022/QĐXXST - DS ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh G, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn S, xã B, huyện T, tỉnh H.
Bị đơn: Chị D, sinh năm 1985; Địa chỉ: 33E ấp T, xã P, TP. M, tỉnh G
Anh G, chị D vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh G trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị D cưới nhau vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn vào năm 2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dần không còn. Anh và chị D đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay anh thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị D.
- Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Nhất Tâm, sinh ngày 07/5/2010. Hiện cháu đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có
Tại bản tự khai ngày 06 tháng 7 năm 2022, bị đơn chị D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh G.
- Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Nhất Tâm, sinh ngày 07/5/2010. Hiện cháu đang sống với anh G. Khi ly hôn chị để anh G quyền trực tiếp nuôi cháu Tâm.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Anh G có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với chị D nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị D có nơi cư trú tại thành phố Mỹ Tho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Anh G và chị D cưới nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hà Bắc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2009 là phù hợp với Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh G và chị D thống nhất lời khai là do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay.
Chị D đồng ý ly hôn với anh G, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh G với chị D là phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Nhất Tâm, sinh ngày 07/5/2010. Hiện cháu đang sống chung với anh G. Khi ly hôn anh G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy do hiện cháu Tâm cũng đang sống trực tiếp với với anh G nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, cháu Tâm cũng có nguyện vọng được sống trực tiếp với cha. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh G với chị D và quan điểm điểm của đại diện Viện Kiểm sát, giao cháu Tâm cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh G không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh G và chị D không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh G tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh G và chị D.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhất Tâm, sinh ngày 07/5/2010 cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh G tự nguyện chịu tiền án phí sơ thẩm là 150.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 22208 ngày 09 tháng 05 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên anh G được hoàn lại 150.000 đồng.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP Mỹ Tho; - Các đương sự; - UBND xã Hà Bắc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho; - Lưu. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |