vanban.org

Bản án 136/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 10/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Phan Đình N; kháng ngh đề ngh giảm án cho cáo N của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và kháng cáo của các hại Đậu Xuân Đ, Phan Th T, Phạm Quang N và Hà Sỹ V về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th H…

Tuyên ố b cáo cáo Phan Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 587, 589 Bộ luật dân sự 2015; Buộc b cáo Phan Đình N có trách nhiệm trả lại cho những người b hại số tiền mà cáo đã chiếm đoạt; cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Phan Đình N; kháng ngh đề ngh giảm án cho cáo N của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và kháng cáo của các hại Đậu Xuân Đ, Phan Th T, Phạm Quang N và Hà Sỹ V về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th H…
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2021/HS-PT
Ngày: 10/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tào

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thanh Long

Ông Lê Phước Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Vào ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 192/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021 đối với cáo Phan Đình N. Do có kháng cáo của b cáo, kháng cáo của b hại và kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 711/2021/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 02 năm 2021.

* Bị cáo có kháng cáo:

PHAN ĐÌNH N (D), sinh ngày 23 tháng 10 năm 1992 tại B Đ nh; Nơi ĐKNKTT: tỉnh B Đ nh; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Công T (chết) và à Trần Th P (không rõ đ a chỉ); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa.

B bắt tạm giam ngày 30/10/2019. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Th H, Văn phòng luật sư Đ

- Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, ào chữa cho b cáo theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.

* Người bị hại:

- Anh Đậu Xuân Đ, sinh năm 1979. Vắng. Có ch Nguyễn Th L (vợ anh Đ) làm đại diện; Nơi cư trú: tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Ch Phan Thị T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: tỉnh Quảng B. Có mặt

- Anh Hà Sỹ V, sinh năm 1982. Nơi cư trú: tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Anh Phạm Quang N, sinh năm 1981. Nơi cư trú: tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ch Nguyễn Thị Hà V (V); sinh năm 1998. Nơi ĐKNKTT: tỉnh B Đ nh. Nơi cư trú: thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Ch Nguyễn Thị Cúc O, sinh năm 1997. Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: tỉnh Quảng Nam. Vắng.

(Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không kháng cáo, kháng ngh ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2018, Phan Đình N đến thành phố Đà Nẵng để lập nhóm thể thao điện tử L minh Huyền thoại, đặt tên là VS4 Gaming, nhóm có khoảng 06 người, do N thuê phòng trọ, thuê máy tính cũng như lo chi phí ăn ở cho các thành viên để tập luyện, đi lại tham gia các giải đấu. Ban đầu, N thuê căn hộ tại Chung cư X, đến khoảng tháng 7 năm 2019, N thuê nhà số 118 đường N để nhóm game đến tập luyện thi đấu.

Để có tiền duy trì nhóm VS4 Gaming, N tìm hiểu thông tin trên mạng internet, biết được nhiều người có nhu cầu xin Visa để đi xuất khẩu lao động và đi du l ch nước ngoài, đặc biệt là Hàn Quốc nhưng không đi được do một số quận, huyện ở các tỉnh thành như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng B... nằm trong D sách cấm đi hoặc khó xin Visa nên đã nảy sinh ý đ nh thành lập một Công ty chuyên tuyển dụng lao động và lo thủ tục Visa cho người khác đi nước ngoài để họ tin tưởng, ký hợp đồng, nộp tiền làm d ch vụ rồi chiếm đoạt.

N nhờ ch Nguyễn Th Hà V sử dụng giấy tờ cá nhân thông qua d ch vụ là Công ty TNHH C Số để đăng ký thành lập doanh nghiệp có tên gọi là Công ty TNHH Du l ch V, đ a chỉ tại, thành phố Đà Nẵng. Công ty do V đứng tên giám đốc và là người đại diện theo pháp luật, được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0401952599 ngày 17/01/2019. Công ty đăng ký 07 ngành nghề, trong đó có hoạt động tư vấn d ch vụ thủ tục xin visa. Sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và con dấu, ch V giao cho N, không tham gia ất kỳ vào hoạt động nào của Công ty.

Sau khi thành lập được Công ty, N đăng trên trang ứng dụng facebook cá nhân của N tên “D ch vụ Visa Hàn và Quốc tế” với nội dung tuyển dụng lao động và du l ch đi Hàn Quốc và các nước khác, đảm bảo Visa kèm theo thông tin về Công ty TNHH Du l ch V, số điện thoại liên hệ là 0236 3611239. Ngoài ra, N sử dụng tên giả là “D” kèm theo số điện thoại xxxxxxxxxx làm số hotline để khách hàng liên hệ. N lên mạng internet tìm hiểu về quy trình cấp Visa, soạn sẵn nội dung các gói Visa lưu trên trang face ook để N viên Công ty tư vấn cho người gọi đến hoặc trực tiếp tư vấn, đồng thời tải về các mẫu hợp đồng, phiếu thu để thực hiện việc giao, kết hợp đồng. Quá trình hoạt động, N tuyển dụng các N viên gồm: Ch Nguyễn Th Cúc O, ch Nguyễn Kim T, Lê Th T vào làm việc. N chủ yếu điều hành toàn ộ hợp động qua điện thoại hoặc tin nhắn qua ứng dụng messenger có tên tài khoản là “Ưng Đại N”. N giao con dấu Công ty cho ch O và chỉ đạo ch O và các N viên thực hiện việc ký hợp đồng, nhận hồ sơ, thu tiền của khách hàng rồi chuyển hết cho N để N liên hệ xin cấp Visa. Các N viên này không iết N xin Visa như thế nào.

Quá trình điều tra xác đ nh từ tháng 03/2019 đến tháng 9/2019, ằng thủ đoạn như trên, N có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 20 b hại, cụ thể như sau:

1. Ông Nguyễn Mạnh C: Tháng 4/2019, ông C ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 57.500.000đ (Năm mươi ảy triệu, năm trăm ngàn đồng) để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc.

2. Ông Đậu Xuân Đ: Ngày 20/8/2019, ông Đ ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng) để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc.

3. Ông Phan Đức T: Ngày 20/8/2019, ông T ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng) để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc.

4. Ông Nguyễn V N: Ngày 27/5/2019, ông N ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) để làm thủ tục visa đi du l ch Hàn Quốc.

5. Bà Nguyễn Ngọc T: Do tin tưởng Công ty TNHH Du l ch V có khả năng xin được Visa đi lao động, đi du l ch tại Hàn Quốc và Canada, à T nhận hồ sơ và tiền của 08 (tám) người gồm các ông à: Phạm Th H, Mai V Q, Cao V P, Phạm Th T, Mai V, Hoàng T, Phạm Gia H, Cao P để liên hệ làm thủ tục.

Trong tháng 6 và tháng 7/2019, à T ký kết các Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 545.010.000đ (Năm trăm ốn mươi lăm triệu, không trăm mười ngàn đồng), sau khi nộp tiền thì được ch O trích lại tiền hoa hồng theo thỏa thuận là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Sau khi biết b N lừa chiếm đoạt tiền, à T trả lại tiền cho 08 (tám) người trên. Hiện N chưa trả lại số tiền 538.010.000đ (Năm trăm ốn mươi lăm triệu, không trăm mười ngàn đồng) cho à T.

6. Bà Phan Th T: Do tin tưởng Công ty TNHH Du l ch V có khả năng xin được Visa đi lao động Hàn Quốc nên à T nhận hồ sơ và tiền của 03 người gồm Nguyễn V L, Trần Th L, Nguyễn Th H để liên hệ làm thủ tục. Ngoài ra, đề tạo lòng tin cho à T, N tạo tin nhắn giả giữa N và một người ghi tên “A Đ LSQ” có nội dung trao đổi liên quan đến việc cấp visa đi Hàn Quốc và hẹn đến lấy visa và chụp hình tờ giấy iên nhận thể hiện nội dung ngày hẹn lấy Visa là 09/9/2019 nhưng không thấy tên người nhận Visa gởi cho à T để à T nộp thêm tiền.

Ngày 11/7/2019, à T ký kết Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 388.500.000đ (Ba trăm tám mươi tám triệu, năm trăm ngàn đồng). Sau khi biết b N lừa chiếm đoạt tiền, à T đã trả lại tiền cho 03 người trên.

7. Ông Phan Đình H: Ngày 05/7/2019, ông H ký kết Hợp đồng d ch vụ visa 247 với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) để làm thủ tục xin visa đi lao động Hàn Quốc và mua vé máy ay đi Hàn Quốc.

8. Bà V Th D: Do tin tưởng Công ty TNHH Du l ch V có khả năng xin được visa đi du l ch và đi lao động tại Hàn Quốc nên à D nhận hồ sơ và tiền của 06 (sáu) người gồm các ông à: Nguyễn V A, Lưu Đình C, V V T, V V T, Đinh Th H, Đinh Đăng T để liên hệ làm thủ tục.

Vào các ngày 23/7/2019 đến ngày 02/8/2019, à D ký kết Hợp đồng d ch vụ visa 247 với Công ty TNHH Du l ch V và nộp tổng cộng 272.000.000đ (Hai trăm ảy mươi hai triệu đồng), Sau khi biết b N lừa chiếm đoạt tiền, à D đã trả lại tiền cho 06 (sáu) người trên.

9. Bà Trần Th P: Ngày 01/8/2019, à P ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin Visa đi lao động Hàn Quốc và nộp tổng cộng 141.000.000đ (Một trăm ốn mươi mốt triệu đồng).

10. Bà Tr nh Th H: Ngày 12/8/2019, à H ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin visa đi Canada và nộp tổng cộng 194.500.000đ (Một trăm chín mươi ốn, năm trăm ngàn đồng).

11. Ông Hồ Lê T: Ngày 05/8/2019, ông T ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để xin Visa đi du l ch Hàn Quốc cho ông Nguyễn V Phong và nộp 47.000.000đ (Bốn mươi ảy triệu đồng). Sau khi biết N lừa chiếm đoạt tiền, ông T đã trả lại tiền cho ông Phong.

12. Ông Chu V G: Ngày 06/8/2019, ông G ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin Visa đi du l ch Hàn Quốc cho ông Nguyễn V Phong và nộp tổng cộng 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

13. Ông Hà Sỹ V: Ngày 06/8/2019, ông V ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin visa đi du l ch Hàn Quốc và nộp tổng cộng 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

14. Ông Phạm Quang N: Ngày 06/8/2019, ông N ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục visa đi du l ch Hàn Quốc và nộp tổng cộng 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

15. Ông Hoàng Anh H: Ngày 13/8/2019, ông H ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục Visa đi du l ch Úc và nộp tổng cộng 11.750.000đ (Mười một bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

16. Ông T Nhật V: Ngày 13/8/2019, ông H ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục Visa đi du l ch Úc và nộp tổng cộng 82.250.000đ (Tám mươi hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

17. Ông Cao C T: Ngày 03/9/2019, ông T ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin Visa đi lao động Hàn Quốc và nộp tổng cộng 140.104.500đ (Một trăm bốn mươi triệu, một trăm không ốn ngàn, năm trăm đồng).

18. Bà Trần Út H: Ngày 03/9/2019, à H ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin visa đi lao động Hàn Quốc và nộp tổng cộng 255.000.000đ (Hai trăm năm mươi lăm triệu đồng).

19. Bà V Th L: Ngày 18/8/2019, à L ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin Visa thương mại Hàn Quốc cho 03 người gồm các ông à Đặng V U, Trần Th B và à L và nộp tổng cộng 130.000.000 đồng (Một trăm a mươi triệu đồng). Sau khi biết N lừa chiếm đoạt tiền, à L đã trả lại tiền cho ông U và à B.

20. Bà Lê Th Ngọc S: Ngày 30/8/2019, à S ký Hợp đồng d ch vụ V với Công ty TNHH Du l ch V để làm thủ tục xin Visa đi du l ch Hàn Quốc và nộp tổng cộng 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). N chỉ đạo ch O hướng dẫn à S làm thủ tục gồm hồ sơ chứng minh tài chính, hợp đồng lao động và dẫn à S đến Lãnh sự quán Hàn Quốc nộp hồ sơ, việc liên hệ xin visa để N lo. Sau khi nộp hồ sơ thì à S được cấp giấy hẹn đến ngày 29/9/2019 đến nhận visa. Tuy nhiên đến ngày 29/9/2019, à S đến Lãnh sự quán Hàn Quốc thì được thông áo thủ tục không đủ và N viên Lãnh sự quán trả lại giấy tờ, hộ chiếu. Khi à S liên lạc thi N tắt điện thoại.

Tổng cộng 20 b hại nêu trên nộp cho Công ty TNHH Du l ch V tổng số tiền 3.154.114.500 đồng (Ba tỷ, một trăm năm mươi ốn triệu, một trăm mười bốn ngàn, năm trăm đồng) để làm thủ tục xin visa đi du l ch, đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, Úc, Canada cho 36 (Ba mươi sáu) trường hợp. Sau khi nhận tiền và hồ sơ của các b hại nộp, ch O chuyển hết cho N, số tiền này N dùng trả lương N viên, trả tiền thuê văn phòng, trả nợ một số người, số còn lại chủ yếu N sử dụng vào việc duy trì nhóm VS4 Gaming. Hiện N chưa trả tiền lại cho các hại trên.

Ngoài các hại nêu trên, quá trình điều tra, ch O khai có 08 người khác nộp số tiền 914.550.000 đồng (Chín trăm mười bốn triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng) để làm thủ tục xin Visa đi nước ngoài, tuy nhiên, sau khi không xin được Visa, những người này đòi lại tiền, N chỉ đạo ch O trả lại tiền và hồ sơ. Cơ quan CSĐT - Công an TP Đà Nẵng ra thông áo tìm hại nhưng các cá nhân này không liên hệ làm việc nên không có cơ sở xử lý.

Do khách hàng thường xuyên phản hồi tiêu cực về Công ty TNHH Du l ch V, ch O nghi ngờ hoạt động của Công ty nên ngày 07/9/2019 thì lập bảng áo cáo tổng hợp số tiền nhận của khách hàng, số tiền chuyển cho N, yêu cầu N ký xác nhận số liệu và xin nghỉ việc. Đến ngày 16/9/2019, khi nhiều người gọi điện đòi lại tiền, ch O liên lạc với N nhưng không được nên đến Công an quận T Khê, thành phố Đà Nẵng trình áo.

Ngày 16/9/2019, một số cá nhân gọi điện thoại đến ch Nguyễn Th Hà V yêu cầu giải quyết việc xin Visa, ch V liên hệ N không được, nghi ngờ N có hành vi lừa đảo, ch V đến Công an quận T Khê, thành phố Đà Nẵng trình áo.

Khoảng ngày 17/9/2019, N nhờ d ch vụ giao hàng Gra chuyển đến ch V 01 gói hàng ao gồm hộ chiếu, hồ sơ khách hàng để nhờ ch V trả lại cho các hại, đến ngày 14/10/2019 thì ch V liên hệ Cơ Quan CSĐT - Công an TP Đà Nẵng giao nộp.

* Tang vật tạm giữ:

Các tang, tài vật do ch Nguyễn Th Hà V giao nộp theo Biên ản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan CSĐT - Công an TP Đà Nẵng lập ngày 14/10/2019 gồm:

+ Số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

+ 29 (hai mươi chín) hộ chiếu, hồ sơ của người xin Visa (hồ sơ gồm Giấy khám sức khỏe, Phiếu lý l ch tư pháp, ảnh thẻ, Chứng minh nhân dân, Giấy đăng ký kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn N, Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu (các giấy tờ cá nhân là ản photocopy có công chứng);

+ 20 (hai mươi) Hợp đồng d ch vụ V (bản gốc); 01 (một) CMND mang tên Phan Đình N;

+ 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Du l ch V và các giấy tờ khác liên quan đến thành lập, hoạt động, thay đổi doanh nghiệp; Con dấu Công ty TNHH Du l ch V.

Ch Hồ Th Như Nguyệt nộp lại số tiền 6.560.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm sáu mươi ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 35/2020/VKS-CT-P2 ngày 28/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố b cáo Phan Đình N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

1. Tuyên ố b cáo Phan Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 174; các Điểm b, g, m khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Phan Đình N: 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 30/10/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự 2015.

Tuyên:

Buộc b cáo Phan Đình N phải có trách nhiệm trả lại cho những người b

hại số tiền mà cáo đã chiếm đoạt, cụ thể như sau:

- Trả lại cho ông Nguyễn Mạnh C số tiền: 57.500.000đ (Năm mươi ảy triệu, năm trăm ngàn đồng),

- Trả lại cho ông Đậu Xuân Đ số tiền: 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng),

- Trả lại cho ông Phan Đức T số tiền: 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng),

- Trả lại cho ông Nguyễn V N số tiền: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).

- Trả lại cho à Nguyễn Ngọc T số tiền: 545.010.000đ (Năm trăm ốn mươi lăm triệu, không trăm mười ngàn đồng),

- Trả lại cho à Phan Th T số tiền: 388.500.000đ (Ba trăm tám mươi tám triệu, năm trăm ngàn đồng),

- Trả lại cho ông Phan Đình H số tiền: 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).

- Trả lại cho à V Th D số tiền: 272.000.000đ (Hai trăm ảy mươi hai triệu đồng)

- Trả lại cho à Trần Th P số tiền: 141.000.000đ (Một trăm ốn mươi mốt triệu đồng)

- Trả lại cho à Tr nh Th H số tiền: 194.500.000đ (Một trăm chín mươi bốn, năm trăm ngàn đồng)

- Trả lại cho ông Hồ Lê T số tiền: 47.000.000đ (Bốn mươi ảy triệu đồng)

- Trả lại cho ông Chu V G số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng)

- Trả lại cho ông Hà Sỹ V số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng)

- Trả lại cho ông Phạm Quang N số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng)

- Trả lại cho ông Hoàng Anh H số tiền: 11.750.000đ (Mười một bảy trăm năm mươi ngàn đồng)

- Trả lại cho ông T Nhật V số tiền: 82.250.000đ (Tám mươi hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng)

- Trả lại cho ông Cao C T số tiền: 140.104.500đ (Một trăm ốn mươi triệu, một trăm không ốn ngàn, năm trăm đồng)

- Trả lại cho à Trần Th Út H số tiền: 255.000.000đ (Hai trăm năm mươi lăm triệu đồng)

-Trả lại cho à V Th L số tiền: 130.000.000đ (Một trăm a mươi triệu đồng)

- Trả lại cho à Lê Th Ngọc S số tiền: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).

Tổng số tiền b cáo Phan Đình N phải có trách nhiệm trả lại cho các người b hại là: 3.154.114.500đ (Ba tỷ, một trăm năm mươi ốn triệu, một trăm mười bốn ngàn, năm trăm đồng).

Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật, những người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà cáo Phan Đình N không thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì cáo phải ch u thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác đ nh theo thỏa thuận của các ên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết đ nh về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 06/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 99/QĐ-VKS-P2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo hướng giảm hình phạt đối với b cáo Phan Đình N và hủy bỏ phần kiến ngh về việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V và Nguyễn Th Cúc O.

- Ngày 06 tháng 01 năm 2021, b cáo Phan Đình N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Các ngày 08/01/2021; 10/01/2021 và 15/01/2021, các b hại Đậu Xuân Đ, Phan Th T, Phạm Quang N và Hà Sỹ V kháng cáo yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V, Nguyễn Th Cúc O và uộc có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã nhận.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các hại; chấp nhận kháng cáo của b cáo Phan Đình N; chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, giảm hình phạt đối với b cáo Phan Đình N và hủy bỏ phần kiến ngh về việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V và Nguyễn Th Cúc O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử thấy đủ cở sở kết luận:

Vào khoảng tháng 10/2018, cáo Phan Đình N đến thành phố Đà Nẵng lập nhóm thể thao điện tử L minh huyền thoại có tên VS4 Gaming. Để có tiền chi phí cho nhóm game và sử dụng cá nhân, b cáo N đã nhờ ch Nguyễn Th Hà V (là người tham gia trong nhóm game) đứng tên để thành lập Công ty TNHH Du l ch V và đăng tải lên mạng xã hội face ook thông tin gian dối về việc tuyển dụng lao động và đảm bảo thủ tục xin Visa cho người khác đi xuất khẩu lao động, đi du l ch tại Hàn Quốc, Úc, Canada với mục đích để người khác tin tưởng nộp hồ sơ và tiền làm d ch vụ rồi chiếm đoạt. Với thủ đoạn như trên, từ tháng 3/2019 đến tháng 9/2019, cáo N đã nhận và chiếm đoạt của 20 người, với tổng số tiền là 3.154.114.500 đồng.

Với hành vi và tính chất, mức độ phạm tội nêu trên, án sơ thẩm đã tuyên bố b cáo Phan Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Công Minh và kháng ngh giảm hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhận thấy: B cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. B cáo chiếm đoạt số tiền là 3.154.114.500 đồng, gấp 06 lần mức khởi điểm của khung hình phạt; với 03 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm b, g, m khoản 1 Điều 52 BLHS: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “Phạm tội 02 lần trở lên” (20 lần) và “Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt”. Án sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo như sau khi phạm tội đã thật thà khai áo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, theo quy đ nh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xử phạt b cáo 17 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo, không nặng. B cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo và kháng ngh đề ngh giảm án cho cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.

. Xét kháng cáo của các hại Đậu Xuân Đ, Phan Th T, Phạm Quang N và Hà Sỹ V về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V (Vy), Nguyễn Th Cúc O và uộc có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã nhận, nhận thấy:

. Đối với Nguyễn Th Hà V (V): Ch V là người quen của b cáo N, khi nghe N nói do vướng thủ tục thuế nên nhờ V đứng tên thành lập Công ty để hoạt động du l ch, án vé máy ay và làm hộ chiếu cho khách hàng; ch V đã tin tưởng nên dùng chứng minh nhân dân của mình để tiến hành các thủ tục thành lập Công ty và mở tài khoản tại Ngân hàng để công ty giao d ch. Sau khi hoàn tất các thủ tục, ch V đã giao toàn ộ hồ sơ Công ty, con dấu cho N, nên không biết Công ty hoạt động như thế nào, không iết các khoản tiền chuyển vào tài khoản do Công ty do V đứng tên là tiền do b cáo N phạm tội mà có và cũng không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của b cáo N.

. Đối với ch Nguyễn Th Cúc O: Ch O là sinh viên mới tốt nghiệp; qua xem quảng cáo tuyển dụng người trên facebook, ch O liên hệ phỏng vấn và được b cáo N tuyển dụng vào Công ty làm từ ngày 01/3/2019 đến ngày 07/9/2019, với nhiệm vụ tư vấn khách hàng theo các nội dung do N soạn sẵn, ký hợp đồng theo mẫu, nhận tiền, xuất phiếu thu; sau khi nhận tiền và hồ sơ của khách hàng thì ch O giao hết cho N. Quá trình làm việc ch O thực hiện đúng nhiệm vụ do N giao, không iết N lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác.

Như vậy, ch V và ch O đều là những người b N đưa ra thông tin gian dối để lợi dụng; do đó, về ý thức chủ quan cả hai đều không iết việc b cáo N thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, nên không thỏa mãn vai trò “Đồng phạm” với b cáo N theo quy đ nh tại Điều 17 BLHS: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của các hại về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V (Vy), Nguyễn Th Cúc O và uộc có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã nhận; chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng về nội dung hủy bỏ phần kiến ngh về việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V và Nguyễn Th Cúc O.

. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật.

. Do kháng cáo của b cáo không được chấp nhận nên cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Phan Đình N; kháng ngh đề ngh giảm án cho cáo N của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và kháng cáo của các hại Đậu Xuân Đ, Phan Th T, Phạm Quang N và Hà Sỹ V về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V, Nguyễn Th Cúc O và uộc có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã nhận; chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng về nội dung hủy bỏ phần kiến ngh về việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Th Hà V và Nguyễn Th Cúc O; Sửa án sơ thẩm.

- Tuyên ố b cáo cáo Phan Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng các điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, g, m khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Phan Đình N 17 năm tù. Thời gian tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 30/10/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 587, 589 Bộ luật dân sự 2015; Buộc b cáo Phan Đình N có trách nhiệm trả lại cho những người b hại số tiền mà cáo đã chiếm đoạt; cụ thể như sau:

- Trả lại cho ông Nguyễn Mạnh C số tiền: 57.500.000đ (Năm mươi ảy triệu, năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Đậu Xuân Đ số tiền: 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Phan Đức T số tiền: 232.500.000đ (Hai trăm a mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Nguyễn V N số tiền: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).

- Trả lại cho à Nguyễn Ngọc T số tiền: 545.010.000đ (Năm trăm ốn mươi lăm triệu, không trăm mười ngàn đồng).

- Trả lại cho à Phan Th T số tiền: 388.500.000đ (Ba trăm tám mươi tám triệu, năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Phan Đình H số tiền: 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).

- Trả lại cho à V Th D số tiền: 272.000.000đ (Hai trăm ảy mươi hai triệu đồng).

- Trả lại cho à Trần Th P số tiền: 141.000.000đ (Một trăm ốn mươi mốt triệu đồng).

- Trả lại cho à Tr nh Th H số tiền: 194.500.000đ (Một trăm chín mươi bốn, năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Hồ Lê T số tiền: 47.000.000đ (Bốn mươi ảy triệu đồng).

- Trả lại cho ông Chu V G số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Hà Sỹ V số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Phạm Quang N số tiền: 70.500.000đ (Bảy mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Hoàng Anh H số tiền: 11.750.000đ (Mười một bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

- Trả lại cho ông T Nhật V số tiền: 82.250.000đ (Tám mươi hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

- Trả lại cho ông Cao C T số tiền: 140.104.500đ (Một trăm ốn mươi triệu, một trăm không ốn ngàn, năm trăm đồng).

- Trả lại cho à Trần Th Út H số tiền: 255.000.000đ (Hai trăm năm mươi lăm triệu đồng).

-Trả lại cho à V Th L số tiền: 130.000.000đ (Một trăm a mươi triệu đồng).

- Trả lại cho à Lê Th Ngọc S số tiền: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).

Tổng số tiền b cáo Phan Đình N phải có trách nhiệm trả lại cho các người b hại là: 3.154.114.500đ (Ba tỷ, một trăm năm mươi ốn triệu, một trăm mười bốn ngàn, năm trăm đồng).

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Phan Đình N phải ch u 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh khác về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và trách nhiệm ch u lãi suất chậm trả được thực hiện theo Quyết đ nh của Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2020/HSST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ