vanban.org

Bản án 136/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Bùi Ngọc D về UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Ngọc D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án sẽ quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 136/2020/HSST
Ngày 09/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ông Nguyễn Ngọc Quang

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng- Thư ký Tòa án nhân

dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Cẩm Vân, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/TLST - HS ngày 19/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Ngọc D; Sinh năm: 1966; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Số 19 ng 50 phố K, tổ dân phố T 3, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 3/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Bùi Ngọc N(đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Tr(đã chết); Họ tên vợ: Nguyễn Thị H; Con: Có 02 con, lớn sinh 1986, nhỏ sinh 1989.

Tiền án, tiền sự: Không:

Danh chỉ bản số 281, lập ngày 28/4/2020 tại Công an quận Bắc Từ Liêm. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bị hại: Anh Vũ Văn Huân; sinh năm 1977, Địa chỉ: Số 46 phố Văn Hội, phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 20 4 2020, anh Vũ Văn Huân đến trụ sở công an phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm trình báo bị mất 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Y7 Pro màu trắng, trong ốp điện thoại có 01 chứng minh nhân dân và 2.000.000 đồng tiền mặt tại số nhà 4 ng 50 phố Kỳ Vũ, TDP Thượng Cát 3, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

Quá trình rà soát, công an phường Thượng Cát xác định Bùi Ngọc Dũng là người liên quan đến vụ việc nên đã đưa đối tượng Dũng về trụ sở tiếp tục điều tra làm rõ.

Vật chứng thu gi của Bùi Ngọc D:

- 01 ĐTDĐ màu trắng nhãn hiệu HUAWEI đã qua sử dụng, ốp màu nâu, không kiểm tra chất lượng bên trong;

- 2.000.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng;

- 01 CMND số xxxxxxxxx mang tên Vũ Văn Huân.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 10 giờ ngày 20 4 2020, Bùi Ngọc Dũng đi bộ từ đầu ng 50 phố Kỳ Vũ, TDP Thượng Cát 3, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội về nhà. Khi đi qua số nhà 4 ng 50 phố Kỳ Vũ, TDP Thượng Cát 3, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, Dũng nhìn thấy chiếc ô tô BKS 29D-505.10 của anh Vũ Văn Huân đỗ bên đường, không khóa cửa. D nhìn trong xe thấy không có ai, trên ghế phụ có 01 điện thoại di động màu trắng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Dũng dùng tay mở cửa xe rồi với tay phải vào trong xe lấy điện thoại, sau đó đóng cửa xe lại rồi đi về nhà tại số nhà 19 ng 50 phố Kỳ Vũ, TDP Thượng Cát 3, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Khi về đến nhà, Dũng tắt nguồn điện thoại và giấu điện thoại ở đầu giường phòng ngủ tầng 2. Khi cơ quan công an mời lên trụ sở làm việc, Dũng tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động mình vừa trộm cắp được. Kiểm tra chiếc điện thoại Dũng giao nộp phát hiện bên trong ốp điện thoại có 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Văn Huân và 2.000.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.

Ngày 23 4 2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm có Kết luận định giá số 58 kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Y7 Pro, model LDN-LX2 màu trắng đã qua sử dụng, số sim xxxxxxxxxx, IMEI 1: 869572030844607, IMEI 2: 869572030844615, có giá trị: 600.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Ngọc Dũng khai nhận hành vi trộm cắp của mình như trên và khai mục đích trộm cắp do nảy sinh lòng tham trộm về để sử dụng.

Ngày 28 5 2020, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 39 trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Y7 Pro màu trắng model LDN-LX2 đã qua sử dụng có ốp nhựa màu xanh, 2.000.000 đồng tiền mặt và 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Văn Huân. Anh Huân đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bản cáo trạng số 143/CT- VKS, ngày 17/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố Bùi Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố luận tội và tranh luận gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc D mức án từ 06 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 đến 20 tháng. Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nh ng căn cứ xác định tội danh: Khoảng 10 giờ ngày 20 4 2020, tại địa chỉ số nhà 4 ng 50 phố Kỳ Vũ, TDP Thượng Cát 3, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, Bùi Ngọc Dũng đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Y7 Pro trị giá 600.000 đồng, 2.000.000 đồng tiền mặt và 01 chứng minh nhân dân của anh Vũ Văn Huân. Tổng trị giá tài sản Bùi Ngọc Dũng trộm cắp được là 2.600.000 đồng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở h u về tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung..

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bùi Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Ngọc D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bùi Ngọc D về UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Ngọc D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án sẽ quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326 2016 UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Bùi Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ