- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị O, chị O được ly hôn với anh Phạm Quốc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2020/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2020 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đắc Thắng.
Ông Đỗ Viết Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị O, sinh năm 1988 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc H, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị O trình bày:
- Về hôn nhân: Chị O và anh Phạm Quốc H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T vào năm 2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh H không chăm lo cho kinh tế gia đình. Mặt khác, do chị O đi làm xa nhà nên vợ chồng ngày càng xa cách, không quan tâm nhau dẫn đến việc vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, hơn nữa mẹ anh H lại tác động chị O nộp đơn ly hôn. Do đó, nhận thấy tình cảm không còn nên chị O yêu cầu được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị O và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Thị Thúy K, sinh ngày 31/12/2014. Hiện tại cháu K đang sống chung chị O. Khi ly hôn, chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị O không còn yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Quốc H trình bày:
Anh H thống nhất lời trình bày của chị O về tình trạng hôn nhân giữa anh và chị O nhưng cuộc sống hôn nhân không như chị O trình bày. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bình thường, anh vẫn phụ chị O lo kinh tế gia đình, anh H bị bệnh thoát vi đĩa đệm và lại là con út trong gia đình nên không thể cùng chị O đi làm ăn xa. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng trong một khoản thời gian không thể hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, nhận thấy tình cảm vẫn còn nên chị O yêu cầu ly hôn, anh H không đồng ý.
- Về con chung: Anh H thống nhất anh và chị O có 01 con chung là cháu Phạm Thị Thúy K, sinh ngày 31/12/2014. Hiện tại cháu K đang sống chung chị O. Nếu phải ly hôn theo quyết định của Tòa án, anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh H không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị O giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh H vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án, đề nghị:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị O.
+ Về con chung: Giao cháu Phâm Thị Thúy K, sinh ngày 31/12/2014, cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hồ Thị O yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quốc H và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh H có nơi cư trú tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của bị đơn: Anh Phạm Quốc H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh H.
Về hôn nhân: Chị O và anh H chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 06/10/2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống, giữa chị O và Huy xảy ra mâu thuẫn kéo dài. Chị O cho rằng anh H không biết chăm lo kinh tế gia đình. Giữa chị O và anh H không tự hàn gắn được. Anh H thừa nhận mâu thuẫn tồn tại giữa anh và chị O.
Thấy rằng, giữa chị O và anh H không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị O và anh H đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị O và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Thị Thúy K, sinh ngày 31/12/2014. Cả chị O và anh H đều có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện tại cháu K đang sống chung với chị O, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu K nên cần thiết giao K cho chị O được trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này anh H và chị O có thay đổi hoàn cảnh và có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị O và anh H đều trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị O là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị O, chị O được ly hôn với anh Phạm Quốc H.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thúy K, sinh ngày 31/12/2014 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
3. Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 49441 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, nên chị O đã nộp xong án phí.
Anh H không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị O được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh H vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phú Đông; - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông; - UBND xã P; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |