vanban.org

Bản án 136/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2019/HSST
Ngày: 09-9-2019

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn A Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai

2. Ông Phạm Nguyễn A Tuấn

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2019/HSST ngày 06/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2019/QĐXXST-HS ngày 28/8/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P; sinh năm 1967, tại Thành phố H; nơi cư trú: số 38 đường N, phường B, Quận X, Thành phố H; nghề nghiệp: xe ôm; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Trương Thị U (chết); vợ: Lê Thị C (đã ly hôn), con chưa có;

-Nhân thân:

+Ngày 22/3/1986 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;

+Ngày 15/3/1987 bị Công an Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân, đưa đi cưỡng bức lao động thời gian 12 tháng;

-Tiền án: Ngày 24/01/2018 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 06/11/2018);

-Tiền sự: không;

Bị bắt tạm giam ngày 06/6/2019 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Ông Nguyễn Kỳ A.

Địa chỉ: Số 19 đường L, Phường 17, quận G, Thành phố Hồ H (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Ngọc S.

Địa chỉ: Số 492/25 khu phố 5, Tỉnh lộ 43, phường T, quận T, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/3/2019, Nguyễn Văn P điều khiển xe gắn máy biển số 51X8-5333 đến tiệm sửa xe tại địa chỉ số 19 đường Lê Thị Hồng, Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh để mua nhớt xe. Khi dựng xe ở ngoài P đi bộ vào thấy A Nguyễn Kỳ A đang sửa xe tại tiệm, trên bàn nâng sửa xe gắn máy có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei Nova 3i. Lợi dụng lúc anh Kỳ A sửa xe, P lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động bỏ vào túi quần rồi tẩu thoát. Sau khi phát hiện bị mất trộm anh Kỳ A xem lại camera ghi hình thì thấy P có đứng trước cửa tiệm sửa xe rồi đi vào gần chỗ để điện thoại di động bị mất. Đến ngày 01/4/2019 A Kỳ A phát hiện P đang đi trên hẻm số 40 đường Lê Thị Hồng, Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thì anh Kỳ A giữ lại báo Công an Phường 17, quận Gò Vấp. Công an Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập biên bản tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời khai nhận, sau khi chiếm đoạt tài sản của A Kỳ A, P điều khiển xe chạy đến đường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho tên Minh nhí (chưa rõ lai lịch) được số tiền 500.000 đồng.

Ngày 08/4/2019 tại Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, chị Nguyễn Thị Phượng (em ruột của Nguyễn Văn P) đã bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Kỳ A số tiền 2.000.000 đồng.

Do không thu hồi được chiếc điện thoại bị lấy trộm, không có thông số kỹ thuật cụ thể, không hóa đơn chứng từ nên không có cơ kết luận định giá tài sản. Tại Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh anh Nguyễn Kỳ A xác định chiếc điện thoại Huawei Nova 3i của A mua giá 5.3000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 137/Ctr–VKS ngày 01/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Miễn phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi muốn chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo đã từng nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” cũng như đã từng bị đưa đi cải tạo về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để cải tạo giáo dục cho bản thân. Do đó, thiết nghĩ cần phải có mức án thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm b, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với đối tượng tên Minh nhí, người mua điện thoại do Nguyễn Văn P bán, do chưa rõ lai lịch, Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

. Đối với 01 xe gắn máy hiệu Wave 100, màu đỏ, biển số 51X8-5333. Qua xác minh do A Lê Ngọc Sang đứng tên chủ sở hữu. Ngày 05/9/2018 A Sang bán chiếc xe trên cho Nguyễn Văn P nhưng không làm thủ tục sang tên. Hội đồng xét xử xét thấy, giao cơ quan Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tìm chủ sở hữu hợp pháp, hết thời hạn theo qui định của pháp luật nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp sẽ tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Đối với 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh về vụ trộm cắp tài sản, là vật chứng của vụ án nên tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án;

. Đối với số tiền 500.000 đồng là số tiền P có được do bán chiếc điện thoại di động đã lấy trộm của anh Kỳ A. Xét thấy, là tiền thu lợi bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Nguyễn Kỳ A, tại phiên tòa anh Kỳ A vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện anh Kỳ A đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 173; điểm b, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 12 (mười hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2019.

- Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+Giao cơ quan Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 xe gắn máy hiệu Wave 100, màu đỏ, biển số 51X8-5333, số máy: VUMDPYG150FMH4D104546, số khung: VDPWCH0B4DP104546. Hết thời hạn theo qui định của pháp luật nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp sẽ tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 63/PNK ngày 04/4/2019 và số 91/PNK ngày 19/4/2019 của Công an quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ