- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2019/HS-ST Ngày 30 – 7 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Kim Nguyện.
Ông Võ Thanh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 705/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình T, tên gọi khác: Tú N; sinh năm: 1998, tại Cà Mau; nơi cư trú: đường T, khóm M, phường X, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Danh Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại bản án số 31/2019/HSST ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Hiện bị cáo chưa chấp hành án.
Nhân thân:
- Ngày 26/02/2016 tại bản án số 20/2016/HSST, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt Nguyễn Đình T 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 21/6/2016 tại bản án số 77/2016/HSST, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt Nguyễn Đình T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hình phạt chung của hai bản án bị cáo phải chấp hành là 02 năm 03 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/4/2018. Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/3/2019, đến ngày 29/3/2019 chuyển tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).
Bị hại: Anh Bào Tấn L, sinh năm: 1977 (Có mặt). Địa chỉ cư trú: đường T, khóm B, phường X, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ ngày 25 tháng 3 năm 2019, Nguyễn Đình T rủ Lê Huỳnh Tr, sinh năm 2002, địa chỉ: khóm N, phường X, thành phố C đi chơi game, cả hai đi bộ ngang tiệm tạp hoá Kim Ngân thuộc khóm 2, phường 9, thành phố Cà Mau thấy nhà khóa ngoài, biết bên trong không có người trông coi nên cả hai nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T kêu Tr đứng canh đường, T dùng xà beng mang theo trong người cạy hai ổ khóa cửa thì thấy Trần Hoàng Tuấn A, sinh năm 2003, địa chỉ: khóm B, phường T, thành phố C đi tới thì rủ cùng trộm tài sản, Tuấn A đồng ý nên cả hai tiếp tục cạy hai ổ khóa cửa còn lại. Sau khi cạy xong khóa cửa, T và Tuấn A đột nhập vào trong tiệm tạp hoá lấy trộm tài sản gồm: Tiền Việt Nam 7.800.000 đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng), 01 (một) cây đèn pin màu đen, 02 (hai) mắt ghi hình camera, 02 hộp sữa hiệu ensire. Số tiền trộm được, T chia cho Tuấn A 1.000.000đ, còn lại T và Tr lấy tiêu xài. Ngoài ra, T lấy đèn pin đem về nhà cất giữ, Tuấn A cất hai hộp sữa và ném hai mắt camera vào sọt rác. Đối với cây xà beng, sau khi cạy phá cửa lấy trộm tài sản thì T đã vứt bỏ bên đường không nhớ ở đâu.
Tang vật vụ án là 01 (một) cây đèn pin màu đen được thu giữ tại nhà của T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 11/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định:
Tính vào thời điểm tháng 3 năm 2019:
- 01 (một) cây đèn pin không rõ nhãn hiệu, giá trị còn lại 87,5%
200.000đ x 87,5% = 175.000đ.
- 02 (hai ) mắt ghi hình camera nhãn hiệu Escort, giá trị còn lại 75%
(1.300.000đ x 02 mắt ghi hình camera) x 75% = 1.950.000đ.
- 02 (hai) hộp sửa hiệu ensire 850g, có giá 710.000đ/hộp
710.000đ x 02 hộp = 1.420.000đ.
Tổng giá trị tài sản: 3.545.000đ (Ba triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Biên bản kiểm tra camera ngày 26/3/2019, Nguyễn Đình T thừa nhận hình ảnh thanh niên mặc áo thun, đội nón kết màu xám, mặc quần short ngắn chính là T. Người thanh niên nhỏ con, mặc áo khoác ngoài màu đen, đội nón kết trắng là Trần Hoàng Tuấn A cùng với T vào trộm tài sản tại tạp hóa Kim Ngân vào ngày 25/3/2019.
Anh Bào Tấn L xác định: Lúc khoảng 07 giờ 30 phút, anh L phát hiện tiệm tạp hóa Kim Ngân do anh làm chủ bị kẻ trộm đột nhập, kiểm tra lại thì phát hiện tài sản bị mất gồm: tiền Việt Nam khoảng 18.000.000đ, 40 hộp sữa các loại khoảng 16.000.000đ, hai camera giá 1.300.000đ và một cây đèn pin mua giá 200.000đ.
Tại Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 03/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Đình T theo cáo trạng số: 138/CT-VKS ngày 03 tháng 7 năm 2019 và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 31/2019/HSST ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau (01 năm 06 tháng tù), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 598 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo T bồi thường cho anh Bào Tấn L tổng số tiền 12.570.000đ. Sau khi bồi thường cho bị hại, giữa T, Tuấn A và Tr tự thỏa thuận với nhau về số tiền bồi thường, trường hợp không thỏa thuận được có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 03 giờ ngày 25/3/2019, Nguyễn Đình T, Trần Hoàng Tuấn A, Lê Huỳnh Tr đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản tại tiệm tạp hóa Kim Ngân, địa chỉ: khóm 2, phường 9, thành phố Cà Mau do anh Bào Tấn L làm chủ lấy trộm tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 11.345.000đ đúng như nội dung cáo trạng, không oan, sai. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp.
Xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Khi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, tài sản trộm cắp có tổng giá trị 11.345.000đ. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đối với bị cáo T là người rủ rê, cùng Tuấn A trực tiếp lấy trộm tài sản. Bị cáo T là người có nhân thân xấu có hai lần bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù vào 26/4/2018, bị cáo T không biết sửa đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 21/9/2018, trong quá trình chờ bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 25/3/2019 điều này thể hiện bị cáo còn xem thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Ngày 26/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cây đèn pin màu đen cho bị hại anh Bào Tấn L nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại xác định tài sản bị mất và yêu cầu T, Tuấn A, Tr bồi thường số tiền 17.000.000đ, 02 hộp sữa trị giá 1.420.000đ, hai camera giá 1.950.000đ. Qua đối chiếu thống nhất tài sản là 02 hộp sữa trị giá 1.420.000đ, hai camera giá 1.950.000đ, riêng tiền Việt Nam bị cáo, bị hại chưa thống nhất. Xét thấy, quá trình điều tra bị cáo, Tuấn A và Tr thừa nhận trộm tài sản tại nhà bị hại số tiền 7.800.000đ, tại tòa bị hại thống nhất sự thừa nhận của bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền Việt Nam là 7.800.000đ, 02 hộp sữa trị giá 1.420.000đ, hai camera giá 1.950.000đ. Ngoài ra, bị hại xác định bị cáo cạy cửa vào nhà trộm tài sản làm hư hỏng 04 ổ khóa trị giá 1.400.000đ, tại tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền này và được bị cáo đồng ý. Vì vậy tổng số tiền bị cáo, Tuấn A và Tr phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 12.570.000đ. Tuy nhiên, hiện nay Tuấn A, Tr đã bỏ địa phương, bị hại chỉ yêu cầu bị cáo T có trách nhiệm bồi thường, để đảm bảo quyền lợi cho bị hại vì vậy cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Đối với T sau khi bồi thường cho bị hại, giữa bị cáo T, Tuấn A và Tr không tự thỏa thuận được về trách nhiệm dân sự, T có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.
Đối với Trần Hoàng Tuấn A, theo Kết luận giám định số 847 ngày 16/01/2019 thì tại thời điểm tháng 01/2019, Tuấn A có độ tuổi 15 năm 02 tháng đến 15 năm 08 tháng. Do đó tính đến ngày phạm tội Tuấn A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau có biện pháp xử lý hành chính đối với Trần Hoàng Tuấn A.
Đối với Lê Huỳnh Tr đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau đã tiến hành xác minh và ra thông báo truy tìm đối tượng. Vì vậy, yêu cầu Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 31/2019/HSST ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau (01 năm 06 tháng tù), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2019.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Đình T bồi thường thiệt hại cho anh Bào Tấn L tổng số tiền: 12.570.000đ (Mười hai triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày anh Bào Tấn L có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo phải thanh toán xong khoản tiền nêu trên, nếu không thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp: Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ; án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 628.500đ. Tổng số tiền bị cáo T phải nộp: 828.500đ (Chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: ( - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND Tp. Cà Mau; - VKS tỉnh Cà Mau; - CAND Tp. Cà Mau; - Chi cục THADS Tp. Cà Mau; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án; văn thư. | (Đã ký) Lê Thị Thu |