vanban.org

Bản án 136/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 11/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2018/HSST
Ngày: 11/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thu;

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Mạnh Điền

Bà Hồ Thị Việt Hòa

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 11/9/2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2018/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2018/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Khu 2, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; trú tại: số 5, ngách 3, ngõ 189 Kiều Mai, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học văn hóa: Lớp 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Huy T, SN 1952; con bà: Tăng Thị H, SN 1952; Chồng: Quách Tiến Đ (đã chết); Có ba con: sinh năm 2000, 2015, 2016;

Tiền sự: Không;

Tiền án:

- Bản án số 170 ngày 15/7/2014, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã tuyên phạt Nguyễn Thị H 07 tháng 24 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo H kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 748 ngày 20/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chưa được xóa án tích.

- Bản án số 85 ngày 10/7/2018, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã tuyên phạt Nguyễn Thị H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp 16 tháng tù của bản án số 146/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội buộc H phải chấp hành hình phạt chung là 40 tháng tù.

Nhân thân: Bản án số 146 ngày 29/5/2015, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã tuyên phạt H 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với bản án số 748 ngày 20/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội buộc H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 16 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Thị H chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4 - Thái Nguyên từ ngày 06/3/2018 theo Quyết định tiếp tục thi hành án phạt tù số 09/2017/QĐ - CA ngày 26/4/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm để thi hành Bản án số 146 ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội .

Bị cáo đang bị trích xuất theo lệnh trích xuất số 4059 ngày 20/6/2016 của Cơ quan thi hành án hình sự - Bộ Công an từ ngày 20/6/2018 đến ngày 20/9/2018, hiện bị cáo H đang chấp hành án tại Trại giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bị hại: Chị Phạm Thị Thu H , sinh năm 1991, HKTT: Xã Xuân PH, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: số 19, ngõ 26, tổ 6, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng chiều ngày 05/7/2017, Nguyễn Thị H đi tìm việc và có vào cửa hàng “Thủy May” ở số 197 Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (chủ cửa hàng là anh Bạch Hùng Th, sinh năm 1975, HKTT: Phòng 3, C4 Tập thể Thủ Lệ, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) để xin thử việc. Trưa ngày 07/7/2017, đến giờ nghỉ thì H xin về nhà vì con ốm. Sau khi về đến nhà H không đến cửa hàng anh Th làm nữa, sau đó anh Th phát hiện gia đình anh bị mất 4.900.000 đồng để trong túi xách gần chỗ H ngồi làm việc ở quán của anh Th. Vì nghi ngờ H đã trộm cắp số tiền trên cho nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/9/2017, khi thấy H đang đi xe đạp ở ngõ 76 phố Mai Dịch thì anh Th đã giữ H lại và báo với công an phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy. Ngay sau đó, công an phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy đã có mặt và tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thị H, phát hiện trên người H cất giữ: “01 chiếc điện thoại Samsung, màu trắng, viền màu đen (đã qua sử dụng), không có sim thuê bao, kiểu máy: SHV-E1202”. Công an phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy đã đưa H cùng tang vật về trụ sở làm việc. Tại trụ sở công an phường Mai Dịch, H đã khai nhận chiếc điện thoại trên là do H trộm cắp được của chị Phạm Thị Thu H (sinh năm 1984, Nơi cư trú: số 19, ngõ 26, tổ 6, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) tại cửa hàng may “Thu H” ở địa chỉ trên và H không trộm cắp số tiền 4.900.000 đồng của anh Th. Công an phường Mai Dịch đã tiến hành lập biên bản thu giữ 01 chiếc điện thoại di động trên. Ngày 26/9/2017, chị H đã có đơn trình báo đến Công an phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy về việc ngày 12/8/2017 chị bị mất 01 chiếc điện thoại Samsung, màu trắng, viền màu đen (đã qua sử dụng), không có sim thuê bao, kiểu máy: SHV-E1202.

Ngày 27/9/2017, Cơ quan CSĐT Công an quận Cầu Giấy đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản số 254 định giá đối với chiếc điện thoại mà H đã trộm cắp.

Tại kết luận định giá số 249 ngày 27/9/2017 của Phòng tài chính kế hoạch - Hội đồng định giá tài sản trong TTHS-UBND quận Cầu Giấy định giá: 01 chiếc điện thoại Samsung, màu trắng, viền màu đen, kiểu máy: SHV-E1202 (đã qua sử dụng từ tháng 02/2013) có giá trị 500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/8/2017, H đi xe đạp từ phòng trọ ra cửa hàng sửa chữa quần áo “Thu Hoài” của chị Phạm Thị Thu H để thuê may hoàn thiện chiếc quần lụa. Khi vào cửa hàng, H nói với chị H may giúp H chiếc quần. Chị H đồng ý và hẹn H đến 20 giờ cùng ngày thì ra lấy. Lúc này, H nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng, viền màu đen của chị Hoài, đang để ở đầu giường cạnh cửa ra vào cửa hàng nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Lợi dụng lúc chị H sơ hở quay lưng về phía mình, H đã dùng tay phải lấy chiếc điện thoại trên cất vào túi xách của mình (túi nilon màu đen). Do đã trộm cắp được chiếc điện thoại của chị H cho nên H không quay lại lấy chiếc quần đã thuê chị H sửa nữa.

Đối với chiếc điện thoại Samsung, màu trắng, viền màu đen (đã qua sử dụng), không có sim thuê bao, kiểu máy: SHV-E1202, qua xác minh xác định chiếc điện thoại trên là của chị Phạm Thị Thu H. Ngày 28/5/2018, Cơ quan CSĐT Công an quận Cầu Giấy đã ra quyết định xử lý vật chứng số 123, trao trả cho chị Phạm Thị Thu H chiếc điện thoại nêu trên. Chị H đã nhận lại điện thoại và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Đối với việc anh Bạch Hùng Th trình báo ngày 07/7/2017 anh bị mất số tiền 4.900.000 đồng trong túi xách tại cửa hàng may của anh ở số 197 Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Anh Th có nghi Nguyễn Thị H trộm cắp số tiền trên. Tuy nhiên quá trình điều tra chưa xác định H là người trộm cắp tiền của anh Th. Vì vậy, ngày 20/6/2018 Cơ quan CSĐT - Công an quận Cầu Giấy đã ra quyết định tách rút tài liệu số 62 đối với phần trình báo của anh Th để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị H khai nhận hành vi của mình như trên.

Tại bản cáo trạng số: 133/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị H “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, và tổng hợp hình phạt của Bản án số 85 ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, kết luận định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/8/2017, tại cửa hàng sửa chữa quần áo “Thu H” ở số 19, ngõ 26, tổ 6, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị H lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chị Phạm Thị Thu H đã lấy của chị H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng (có viền màu đen) kiểu máy: SHV-E1202, trị giá 500.000 đồng.

Tuy tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng bản thân Nguyễn Thị H đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lên hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Thị H như trên đã phạm tội“Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với vai trò, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

. Đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. có 3 tiền án đều chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cũng xem xét, trước khi thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại của chị Hoài, bị cáo H còn trộm cắp tài sản và ngày 10/7/2018 Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã tuyên phạt H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp 16 tháng tù của bản án số 146/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội buộc H phải chấp hành hình phạt chung là 40 tháng tù (Bản án hình sự số 85 ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội). Do đó cần tổng hợp để buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm,thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Thu H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên bản án không xem xét.

. Vật chứng: Không.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 40 tháng tù của Bản án số 85/2018/HSST ngày 10/7/2018, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 46 (bốn mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành Bản án số 146/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng là ngày 06/3/2018. Được trừ: Thời gian tạm giữ từ ngày 03/2/2018 đến 09/2/2018 theo Bản án số 85/2018/HSST ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ; Thời gian tạm giữ từ ngày 12/9/2014 đến 13/9/2014 theo Bản án số 146/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng; Thời gian tạm giữ từ ngày 04/4/2014 đến 10/4/2014 theo Bản án số 748/2014/HSPT ngày 20/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

4. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

5. Vật chứng, trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ