- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hồng Sơn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng S phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2018/HS-ST Ngày 29-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Tân - Cán bộ hưu trí.
2. Bà Vũ Thị Đượm – Chủ tịch HLHPNVN thị trấn Gia Ray.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Vào ngày 29/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 166/2018/HSST ngày 07/11/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2018/QĐXXST-HS ngày 09/11/2018 đối với bị cáo:
ĐẶNG HỒNG S(Đen), sinh năm 1992 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện XL, tỉnh ĐN; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1960; Vợ: Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1993, có 01 con chung sinh năm 2012; Tiền sự: không.
Tiền án: tại bản án số 146/2015/HSST ngày 23/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 09 ngày tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bắt tạm giam ngày 01/8/2018, có mặt.
- Bị hại: Chị Thái Thị Tr1, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn GR, huyện XL, tỉnh ĐN.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Dương Giang H, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện XL, tỉnh ĐN.
2. Anh Hồ Quang Tr, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã S, huyện XL, tỉnh ĐN.
3. Chị Trần Thị Th, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện XL, tỉnh ĐN.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện XL, tỉnh ĐN.
2. Anh Nguyễn Đăng Kh, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã X, huyện XL, tỉnh ĐN.
3. Anh Đặng Thị Tới, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện XL, tỉnh ĐN.
4. Anh Dương Ngọc Phượng, sinh năm: 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện XL, tỉnh ĐN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Giang H và Đặng Hồng S có mối quan hệ anh em họ với nhau. Vào sáng ngày 08/7/2016, S rủ H đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo S điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen (không rõ biển số) chở H ngồi sau, chạy trên đường Quốc lộ 1A. Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, khi đi đến khu vực thuộc ấp B, xã X, huyện XL thì cả hai nhìn thấy chị Nguyễn Thị Tr đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B5-459.25, chở chị Thái Thị Tr1, ngồi phía sau cầm theo 01 bọc nilon màu đỏ, lưu thông hướng từ xã Xuân Phú đi xã Bảo Hòa, nên bị cáo S điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau chuyển hướng chạy theo áp sát phía bên trái xe mô tô của chị Nguyễn Thị Tr và H ngồi sau dùng tay giật bọc nilon rồi nhanh chóng chạy thoát về hướng xã Bảo Hòa.
Số tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 6 màu trắng, số tiền 8.000.000 đồng, 500 USD và một số giấy tờ tùy thân khác. Bị cáo H được chia số tiền 8.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Apple Iphone 6, Sđược chia 500 USD, còn các đồ vật cướp giật được S cất giữ. Đến khoảng 11 giờ ngày 09/7/2016, bị cáo H đến tiệm điện thoại di động N bán cho anh Hồ Quang Tr với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
Vật chứng vụ án: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen (không rõ biển số) chưa thu giữ được; 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 màu trắng; Số tiền 8.000.000đ (không thu giữ được); 01 ví (bóp) da nữ nhãn hiệu Chanel, màu đen (không thu giữ được); 05 tờ tiền USD, mỗi tờ mệnh giá là 100 USD (không thu giữ được).
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 29/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc kết luận: Giá trị còn lại của 01 ví (bóp) da nữ nhãn hiệu Chanel, màu đen giá 300.000 đồng; Giá trị của 500 USD là 11.120.000 đồng;01 điện thoại Iphone 6 là 7.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 181/CT-VKSXL ngày 06/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Đặng Hồng S về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo S từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Hồng S khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 ngày 08/7/2016, tại quốc lộ 1A thuộc khu vực ấp Bình Hòa, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, bị cáo cùng với Dương Giang H đã có hành vi dùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, ép sát vào xe mô tô do chị Nguyễn Thị Tr đang điều khiển chở chị Thái Thị Tr1 và cướp giật một bọc nilon màu đỏ có một bóp da màu đen đựng số tài sản gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 6 màu trắng, số tiền 8.000.000 đồng, 500 USD và một số giấy tờ tùy thân khác của chị Thái Thị Tr1. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 26.420.000đ (Hai mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Hồng S đã đủ yếu tố cấu tHnh tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xét tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:
Bị cáo là người đã tHnh niên, có đầy đủ khả năng nhận thức về Hnh vi của mình, nhưng do lười lao động mà bị cáo thực hiện Hnh vi cướp giật tài sản để kiếm tiền tiêu xài. Hnh vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích, do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Vật chứng vụ án: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 10/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, nên không xem xét.
Trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 10/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, nên không giải quyết.
Đối với Dương Giang H, Hồ Quang Tr, Trần Thị Th đã được xem xét tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 10/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, nên không giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Đặng Hồng S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng S phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: bị cáo Đặng Hồng S- 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2018.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Hồng S phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND. T.Đồng Nai; - VKSND T.Đồng Nai; - Công an H.Xuân Lộc; - VKSND H.Xuân Lộc; - CCTHADS H.Xuân Lộc; - Sở Tư pháp T.Đồng Nai; - UBND xã; - Bị cáo, đương sự; - Hồ sơ thi Hnh án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Thái |