vanban.org

Bản án 136/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 19/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2018/HS-PT
Ngày 19 - 12 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Nhân

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Kông - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2018/TLPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1985 tại xã Tân Hưng Đ, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp Đông H, xã Tân Hưng Đ, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D và bà Võ Thị Đ; Vợ: Đỗ Thị N; Con 02 người; Tiền án: 01, Ngày 24/8/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cái N, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cáp tài sản; Chấp hành xong thán 1/2017; Tiền sự: Không; bị khởi tố cho tại ngoại từ ngày 14/5/2018 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Ấp Nhà Thính A, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 10/5/2018, do đường dây điện của nhà ông Nguyễn Văn D là cha ruột của Nguyễn Văn L ở ấp Nhà Thính A, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau bị đứt, L đi tìm chỗ bị đứt để sửa, khi đi ngang qua nhà của chị Nguyễn Thị B là chị ruột của L cách nhà của ông D khoảng 100m thì L phát hiện nhà của chị B không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định vào nhà chị B lấy trộm tài sản. L đi vào nhà bằng cửa sau, lấy cây dao Thái Lan cán vàng trong ống dắt đũa và đi đến tủ đựng quần áo của chị B, dùng dao cạy ổ khóa tủ. Sau khi cạy được ổ khóa, L mở cửa tủ và lục tìm trong tủ lấy trộm số tiền 11.300.000 đồng rồi bỏ vào túi quần, đóng cửa tủ lại và đem số tiền trộm được giấu trong bụi cỏ cách nhà ông Di khoảng 30m.

Đến 18 giờ cùng ngày, L lấy tiền đi trả nợ cho Nguyễn Phi K ở Khóm 2, thị trấn Cái Nước, huyện Cái N 6.800.000 đồng, trả cho Nguyễn Trung T ở Khóm 1, thị trấn Cái Nước, huyện Cái N 3.360.000 đồng, số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 11/5/2018, chị B phát hiện mất tiền nên trình báo sự việc với chính quyền địa phương.

Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn từ được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 10 tháng 10 năm 2018, bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại các phiên tòa sơ, phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận: Vào ngày 10/5/2018, lợi dụng lúc gia đình của chị Nguyễn Thị B (chị ruột của bị cáo) không có ai giữ nhà nên bị cáo vào nhà của chị B rồi dùng dao cạy ổ khóa tủ và lấy trộm số tiền 11.300.000 đồng. Sau khi lấy trộm tiền, bị cáo sử dụng để trả nợ cho anh Nguyễn Phi K 6.800.000 đồng, trả cho anh Nguyễn Trung T 3.360.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người có liên quan là anh Nguyễn Phi K, anh Nguyễn Trung T; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Ngày 24/8/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cái N, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội “Trộm trộm cắp tài sản” với tính chất, mức độ nghiệm trọng hơn. Do đó bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo khoản 6 Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ