- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N-Nguyễn Anh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Anh V về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2018/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2018 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hùng Dương;
2. Ông Phạm Văn Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 463/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu phố 4, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu phố 4, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2018, biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2018 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Anh V là vợ chồng, kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118, quyển số 01/2008, ngày 30/6/2008. Bà N và ông V có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/4/2005 và Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 13/11/2013. Trong cuộc sống thì thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, nhưng sau khi bà N sinh bé thứ hai là cháu Nguyễn Nhựt T thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không ai quan tâm đến ai, nguyên nhân là do ông V tính toán tiền bạc, không cho bà N đi làm nhưng cũng không phụ cấp tiền để bà N nuôi con, dẫn đến vợ chồng gây gỗ thường xuyên, khi gây gỗ thì ông V có những hành vi bạo lực gia đình nên bà N đã bỏ đi vào năm 2014 và đã ly thân từ thời điểm đó cho đến hiện nay. Bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Anh V. Sau khi ly hôn thì bà N yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Nhựt T và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung Nguyễn Ngọc H do cháu có nguyện vọng được sống cùng ông V nên bà N giao cháu cho ông V nuôi và bà Nkhông cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Anh V: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không gửi ý kiến bằng văn bản phản đối yêu cầu ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của bà N. Tòa án ban hành và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông V cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa xét xử vắng mặt bị đơn.
Ngày 05/9/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn xin giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi hay bổ sung yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N khởi kiện tranh chấp yêu cầu được ly hôn với bị đơn Nguyễn Anh V. Bị đơn ông Nguyễn Anh V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ khu phố 4, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Anh V theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Anh V vắng mặt tại phiên tòa.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228, Khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118, quyển số 01/2008, ngày 30/6/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà N yêu cầu được ly hôn với ông V vì cho rằng trong cuộc sống thì thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, nhưng sau khi bà N sinh bé thứ hai là cháu Nguyễn Nhựt T thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không ai quan tâm đến ai, nguyên nhân là do ông V tính toán tiền bạc, không cho bà N đi làm nhưng cũng không phụ cấp tiền để bà N nuôi con, dẫn đến vợ chồng gây gỗ thường xuyên, khi gây gỗ thì ông V có những hành vi bạo lực gia đình nên bà N đã bỏ đi vào năm 2014 và đã ly thân từ thời điểm đó cho đến hiện nay. Căn cứ Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông V ngày 24/9/2018 tại địa phương thể hiện trong quá trình chung sống thì địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng nhưng hiện vợ chồng đã ly thân với nhau. Nhận thấy, nội dung Biên bản xác minh phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn về việc vợ chồng đã ly thân với nhau nhiều năm, xét thời gian ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không có ý nguyện hàn gắn nên yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông V không đến Tòa án tham gia tố tụng, không thể hiện ý kiến, cũng như nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ chấp nhận theo qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà N và ông V có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/4/2005 và Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 13/11/2013. Bà N yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Nhựt T và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung Nguyễn Ngọc H do cháu có nguyện vọng được sống cùng ông V nên bà N giao cháu cho ông V nuôi và bà N không cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế cháu Nguyễn Nhựt T hiện còn nhỏ và đang sống ổn định cùng bà N nên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà N là có cơ sở chấp nhận, đối với chau Nguyễn Ngọc H thì tại bản tự khai ngày 17/8/2018 cháu có nguyện vọng được sống cùng với ông V do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu H cho ông V nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.
Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 228, Khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Anh V về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn đối với ông Nguyễn Anh V.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 13/11/2013. Ông Nguyễn Anh V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/4/2005.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra do đương sự không yêu cầu.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết.
Ông Nguyễn Anh V có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung tên Nguyễn Nhựt T mà không ai được cản trở. Bà Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung tên Nguyễn Ngọc H mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào toàn bộ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0022200 ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo luật định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường Chánh Nghĩa; - Đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Phƣơng |