vanban.org

Bản án 136/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

VKS nd huyện Thới Bình; Chi cục THADS huyện Thới Bình; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông T1 yêu cầu được ly hôn đối với bà T2"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 31-10-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Hoàng Thành 2. Ông Nguyễn Văn Sum

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Thới Bình. Trong ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 475/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1988 (có mặt) Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau 2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1991 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là ông Võ Văn T1 trình bày: Về hôn nhân: Ông T1 và bà T2 tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau ngày 09/5/2013. Quá trình chung sống, hai người xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hôn nhân không thể kéo dài, nay ông T1 yêu cầu được ly hôn đối với bà T2. Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Tại phiên tòa hôm nay: Ông T1 vẫn bảo lưu ý kiến của mình như đã được trình bày trên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn là bà T2 được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đương sự này. [2] Ông T1 và bà T2 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên được công nhận là vợ chồng. Tuy bà T2 không có ý kiến, nhưng qua xem xét tài liệu do phía ông T1 cung cấp là đơn được chính quyền địa phương xác nhận, xác định được giữa hai người có xảy ra mâu thuẫn và hai người sống ly thân từ tháng 6 năm 2014 đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai người có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của ông T1 được ly hôn với bà T2. [3] Các đương sự không có con chung nên không xem xét. [4] Các đương sự không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không xem xét. [5] Ông T1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. [6] Tại phiên tòa: Ông T1 có mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. Bà T2 vắng mặt nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 228; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 1. Xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị T2. 2. Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn T1 được ly hôn đối với bà Huỳnh Thị T2. 3. Ông T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Phần ông T1 nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005687 ngày 27/8/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành được khấu trừ. 4. Ông T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ