vanban.org

Bản án 135/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016 cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Cháu Lò Thị Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, nuôi con chung do mâu thuẫn gia đình giữa chị L và anh Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L ly hôn với anh Lò Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2026/HNGĐ–ST
Ngày: 15–7–2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điêu Chính Xuân, bà Vì Thị Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 300/2026/TLST-HNGĐ ngày 08-6-2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-6-2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29-6-2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09-7-2026; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị L, sinh ngày 19/9/1990. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Bản S (Trước đây là bản H), xã B, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn Q, sinh ngày 19/6/1987. (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Bản S (Trước đây là bản H), xã B, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lường Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn Q kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 31/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã B, tỉnh Sơn La), kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng hiện tại đang sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị Lường Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn Q có 03 con chung là cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007; cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016.

Chị Lường Thị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Thị P và cháu Lò Thị T cho đến khi trưởng thành.

Cháu Lò Thị Đ đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lường Thị L không yêu cầu cấp dưỡng).

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Lường Thị L cam đoan không có nợ chung.

Đối với bị đơn anh Lò Văn Q: Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần, nhiều hình thức khác nhau cho bị đơn anh Lò Văn Q để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Lò Văn Q vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết tranh chấp ly hôn.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 05/5/2026 xác định: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn Q có kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã B, tỉnh Sơn La). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình trầm trọng nên hiện tại chị L, anh Q đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến nhau; về con chung: chị L, anh Q có 03 con chung là cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007 (đã trưởng thành và có khả năng lao động); cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016; về điều kiện nuôi con: chị L có nơi ở ổn định, có thu nhập, đảm bảo điều kiện nuôi con về mọi mặt; về tài sản chung, nợ chung: Chính quyền địa phương không nắm được.

Ý kiến của cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016 theo biên bản ghi ý kiến của con trên 07 tuổi: Các cháu có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị L, ngoài ra các cháu không có ý kiến gì thêm.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Lường Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị L giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016 cho chị Lường Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007 đã trưởng thành và có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lường Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lường Thị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn Q nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lò Văn Q có nơi trú tại Bản S (Trước đây là bản H), xã B, tỉnh Sơn La, do vậy đây là vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lường Thị L vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn anh Lò Văn Q đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về thủ tục hòa giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã B, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị L, anh Q là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L, anh Q chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L, anh Q đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, chị L yêu cầu ly hôn với anh Lò Văn Q.

Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần, nhiều hình thức khác nhau cho bị đơn anh Lò Văn Q để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Lò Văn Q vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả xác minh tại địa phương và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị L, anh Q không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân nhau một thời gian rất dài, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.

Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị L, anh Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lường Thị L ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Lò Văn Q có 03 con chung là cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007; cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu P và cháu T hiện đang ở với chị L.

Chị Lường Thị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Thị P và cháu Lò Thị T cho đến khi trưởng thành. Cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007 đã trưởng thành và có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lò Văn Q không có ý kiến.

Ý kiến của cháu Lò Thị P và cháu Lò Thị T có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị L.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Lường Thị L có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập, có khả năng và điều kiện nuôi con. Sau khi chị L, anh Q ly thân thì cháu P và cháu T đang ở với chị L. Chị L đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, nuôi con về mọi mặt, cũng như cháu P và cháu T đều có nguyện vọng là được ở với chị Lường Thị L.

Do đó để không bị xáo trộn cuộc sống sinh hoạt, học tập và bảo đảm sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu P và cháu T, cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Lò Thị P và cháu Lò Thị T cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

Cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007 (đã trưởng thành và có khả năng lao động), không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xét xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, do không ai yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lường Thị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lò Văn Q không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lường Thị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lường Thị L đối với anh Lò Văn Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị L ly hôn với anh Lò Văn Q.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị P, sinh ngày 08/10/2009 và cháu Lò Thị T, sinh ngày 28/9/2016 cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Cháu Lò Thị Đ, sinh ngày 10/11/2007 (đã trưởng thành và có khả năng lao động. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, do không ai yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lường Thị L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Lò Văn Q không có ý kiến. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Lường Thị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La, theo biên lai thu số 0000425, ngày 08/4/2026.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị L, anh Lò Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ