- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Đ 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Đ 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa …
- Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 3 - 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bửu Khánh
Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2023/TLST - HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 (có đơn xét xử vắng).
Địa chỉ: KP7, TT GR, huyện GR, tỉnh KG
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: KP7, TT GR, huyện GR, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2023 nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh Đ và chị Nguyễn Thị R tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/4/2019. Quá trình chung sống vợ chồng giữa anh và chị R không được hạnh phúc thường xuyên cự cải. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh và chị chưa thật sự tìm hiểu kỹ về nhau, nên khi về sống không phù hợp tính nết với nhau. Nay anh Đ xét thấy không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với chị R, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị R.
Về con chung: Anh Đ xác định có một người con chung tên Nguyễn Hằng N, sinh ngày 20/01/2019, hiện con đang sống cùng với anh, nên anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh không yêu cầu chị R phải cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị R đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng chị R không có văn bản phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tòa án đã triệu tập chị Nguyễn Thị R đến tham dự phiên dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng chị R vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông qua thủ tục Nêm yết nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Đối với nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị R.
Về con chung anh Đ xác định có một người con chung tên Nguyễn Hằng N, sinh ngày 20/01/2019 và hiện tại đang sống cùng với anh. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, chị R không phải cấp dưỡng, do anh Đ không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị miễn xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Đ 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Đ 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; buộc anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Đ 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, chị Nguyễn Thị R với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại khu phố 7, thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Đ 35, điểm a khoản 1 Đ 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Đối với bị đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho theo quy định tại Đ 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng; nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Đ 227; Đ 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Đ với chị Nguyễn Thị R là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các Đ kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/4/2019, theo thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân, dẫn đến ly hôn anh Đ cho rằng giữa anh và chị R thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm sống. Cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Nay anh không còn tình cảm vợ chồng với chị R, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn. Đối với chị Nguyễn Thị R Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng chị R không có mặt và không có ý kiến phản hồi việc ly hôn của anh Đ. Hội đồng xét xử nhận thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được Đ này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng anh Đ không còn tình cảm vợ chồng với chị R và cả hai đã sống ly thân. Đồng thời, theo xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị R xác định hiện tại anh Đ và chị R đã không còn sống chung với nhau. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Đ chị R đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ đối với chị R.
. Về con chung: Anh Đ xác định anh và chị R có với nhau một người con chung Nguyễn Hằng N, sinh ngày 20/01/2019, từ khi ly thân đến nay anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con nên anh tiếp tục yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị R phải cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định của Luật hôn nhân và đình vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng chị R đều vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ hay ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con. Cũng như không căn cứ gì chứng minh anh Đ không đảm bảo Đ kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Theo anh Đ xác định hiện con đang sống cùng với anh. Để giữ sự ổn định và đảm bảo Đ kiện tốt nhất cho sự phát triển của con, nghị nên tiếp tục giao con chung là cháu N cho anh Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh Đ không yêu cầu chị R phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị R có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Đ 147 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phi ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí anh Đ đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Đ 28, khoản 1 Đ 35, Đ 39; Đ 144; Đ 147, Đ 227; Đ 228; Đ 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Áp dụng Đ 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Đ 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị R.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hằng N, sinh ngày 20/01/2019, cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị R không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh Đ không có yêu cầu nên không xem xét.
Chị Nguyễn Thị R có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0008146 ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị R vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được Nêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Đ 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đ 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Đ 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Giòng Riềng; - CCTHADS huyện Giồng Riềng; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Nhiên |