vanban.org

Bản án 135/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lƣơng Văn K và Võ Văn Nhựt T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lƣơng Văn K 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2022. Xử phạt: Võ Văn Nhựt T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn K và đồng phạm - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lƣơng Văn K và Võ Văn Nhựt T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2023/HS-ST
Ngày 06 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hồng Hạnh

2. Ông Bùi Quang Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1106/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lƣơng Văn K; giới tính: nam; sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 13-14 CCM, phường COL, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: tài xế Grab bike; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông LVT (chết) và bà NTC (chết); hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002; tiền án,tiền sự: không có;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 11/5/2022 (có mặt).

2. Võ Văn Nhựt T; giới tính: nam; sinh năm 1987 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: 1982/27/18/5/18/10A HTP, thị trấn NB, huyện NB, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: tài xế Grab bike; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông VVQ (chết) và bà NTXH (chết); hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2021; tiền án,tiền sự: không có;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 11/5/2022 (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại:

Ông OYH. Sinh năm: 1988 (quốc tịch Đài Loan).

Tạm trú: A1-40.07 VGR, số 02 TĐT, phường BN, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Tấn T1. Sinh năm: 1982; Nơi đăng ký HKTT: Thôn KL, xã TT, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: 83F đường số HH, phường PLB, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 03 giờ ngày 30/4/2022, Lương Văn K điều khiển xe gắn máy chở khách chạy ngang khu vực chân cầu Thủ Thiêm 2 thì nhặt được một chiếc ví màu nâu ở dưới đất, kiểm tra bên trong ví có số tiền 2.000.000 đồng cùng một thẻ ngân hàng Techcombank mang tên OYH. K lấy tiền và thẻ ngân hàng, riêng chiếc ví ném bỏ xuống sông. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, K gặp Võ Văn Nhựt T tại giao lộ Nguyễn Văn Quỳ - Huỳnh Tấn Phát, Quận 7 nên bàn bạc với T về việc dùng thẻ ngân hàng trên đi mua đồ về bán lại lấy tiền và được T đồng ý. T điều khiển xe ô tô biển số 51F- 490.60 đến siêu thị ĐMX tại địa chỉ 12/2 NB, ấp B, xã PX, huyện NB, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng thẻ ngân hàng tên OYH mua 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 với giá 22.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 với giá 9.290.000 đồng. Sau đó, T đến cửa hàng T địa chỉ 560 NVT, xã LT, huyện NB mua 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 giá 12.990.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 giá 9.990.000 đồng. T tiếp tục đến cửa hàng Đ tại khu dân cư LH, xã LH, huyện CG, tỉnh Long An mua 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 giá 13.490.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 giá 9.290.000 đồng. T thông báo cho K biết đã mua 06 chiếc điện thoại, thực hiện thanh toán bằng thẻ ngân hàng Techcombank tên OYH, do K đưa sau đó đi về nhà, trên đường về T đã vứt bỏ thẻ ngân hàng trên. Sáng 01/5/2022, K điện thoại cho ông Huỳnh Tấn T1 là chủ cửa hàng điện thoại “TPM” địa chỉ số 40 đường số B, phường AK, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh để bán số điện thoại trên nhưng ông T1 đang nghỉ lễ nên chưa mua. Khoảng 13 giờ ngày 02/5/2022, K tiếp tục liên hệ ông T1 và hẹn xem điện thoại tại quán cafe Y địa chỉ 25 HQV, phường PT, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây T1 đồng ý mua 03 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A53 với giá 18.000.000 đồng. T hưởng 6.000.000 đồng, K hưởng 12.000.000 đồng. Khoảng 09 giờ ngày 03/5/2022, T đến cửa hàng điện thoại “HMM” địa chỉ 2271 HTP, thị trấn NB, huyện NB, Thành phố Hồ Chí Minh bán chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 với giá 15.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tuấn V, sau đó V đã bán lại chiếc điện thoại trên cho khách vãng lai, không thu hồi được. Trong số tiền này, T hưởng 5.000.000 đồng, K hưởng 10.000.000 đồng.

Khoảng 21 giờ ngày 03/5/2022, T đến cửa hàng điện thoại “PCM” địa chỉ 383B HTP, phường TTĐ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bán 02 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 cho ông Lê Tấn P với giá 17.000.000 đồng, sau đó ông P đã bán cho khách vãng lai (không thu hồi được). Trong số tiền này, T hưởng 7.000.000 đồng, K hưởng 10.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 529/CT-VKS-P2 ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lương Văn K và Võ Văn Nhựt T về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Huỳnh Tấn T1, Nguyễn Tuấn V và Lê Tấn P, khi mua điện thoại di động của K và T không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố nêu quan điểm luận tội:

- Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng như nội dung bản cáo trạng.

- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt:

+ Bị cáo Lương Văn K từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

+ Bị cáo Võ Văn Nhựt T từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.

Về dân sự và vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản thu giữ vật chứng, biên bản ghi lời khai người làm chứng và các biên bản hoạt động điều tra khác… có đủ cơ sở xác định: Sau khi nhặt được thẻ Visa do ngân hàng Techcombank phát hành mang tên OYH, Lương Văn K đã cùng với Võ Văn Nhựt T sử dụng thẻ ngân hàng trên mua 06 điện thoại Samsung Galaxy các loại S22, S21 và A53 sau đó bán lại để hưởng lợi số tiền 50.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Lương Văn K và Võ Văn Nhựt T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng viễn thông thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo Điều 290 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội phạm do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, từ ngày 30/4/2022 đến ngày 03/5/2022, các bị cáo đã sử dụng thẻ Visa của ông OYH thực hiện 03 giao dịch mua tổng cộng 06 điện thoại di động với tổng trị giá 78.040.000 đồng. Do đó, cần áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo thể hiện ăn năn hối cải. Sau khi bị phát hiện bị cáo Võ Văn Nhựt T đã khắc phục toàn bộ số tiền thiệt hại cho bị hại và được bị hại bãi nại đề nghị không xử lý hình sự. Xét các bị cáo phạm tội lần đầu, nhất thời phạm tội, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nhất định khi đều là lao động chính, bị cáo K không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế do đó xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một mức hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. [3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại OYH đã nhận đủ tiền bồi thường, đề nghị bãi nại cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo Võ Văn Nhựt T chủ động bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo Lương Văn K hoàn trả số tiền bị cáo đã bồi thường thay cho bị cáo K nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với số tiền 18.000.000 đồng, ông Huỳnh Tấn T1 đã trả cho các bị cáo để mua 03 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, tại phiên tòa ông T1 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [4] Về xử lý vật chứng:

- 03 điện thoại di động hiệu Samsung ông Huỳnh Tấn T1 mua của các bị cáo, quá trình điều tra xác định khi mua ông T1 không biết tài sản trên do phạm tội mà có. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông T1 không yêu cầu nhận lại tài sản trên mà đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- 02 điện thoại di động thu giữ của Lương Văn K và Võ Văn Nhựt T là phương tiện các bị cáo liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lƣơng Văn K và Võ Văn Nhựt T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lƣơng Văn K 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2022.

- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Võ Văn Nhựt T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2022.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh (không kiểm tra IMEI do không có nguồn điện, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung (IMEI:...878951/0, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (IMEI:..35188/0, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (IMEI:...27271/2, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (IMEI:...092559/0, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/073 ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ