vanban.org

Bản án 135/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN XUÂN TR phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo NGUYỄN XUÂN TR 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân TR - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NGUYỄN XUÂN TR phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
---------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:135/2023/HSST
Ngày: 16/06/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Thạch Thị Hằng - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 145/2023/HSST ngày 02 tháng 06 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2023/QĐ-HSST ngày 02/06/2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN XUÂN TR, Sinh Năm 1994; HKTT: A, B, C; Chỗ ở: Số 10, ngõ 43, A, B, C; Quốc tịch; Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H. Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có vợ là Lương Thúy V, sinh năm 1995. Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 364 ngày 19/05/2023 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền sự:

Ngày 30/11/2022, Công an quận Long Biên xử lý hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với mức phạt tiền 6.500.000 đồng (chưa hết thời hiệu).

Bị cáo hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Bị hại: Công ty TNHH SPE; Trụ sở: X, Y, Z.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim A - Giám đốc Công ty

Người được ủy quyền: Nguyễn Thiên N, sinh năm 1993; địa chỉ: Xl, TH, H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/12/2022, Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhận được đơn trình báo của Công ty TNHH SPE ((Địa chỉ: X, Y, Z; địa điểm kinh doanh: CK, LB, H) (thay đổi đăng ký kinh doanh lần thứ nhất ngày 14/4/2023 thành Công ty TNHH SE) (sau đây gọi tắt là Công ty S) do anh Nguyễn Thiên N (sinh năm 1993, HKTT:XL, TH, H) là người được ủy quyền tố cáo NGUYỄN XUÂN TR (sinh năm 1994, HKTT: A, B, C) lừa đảo chiếm đoạt số tiền 15.705.327 đồng.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra NGUYỄN XUÂN TR khai nhận:

Bản thân NGUYỄN XUÂN TR có vay nợ tiền ngoài xã hội, để có tiền trả nợ TR nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng thủ đoạn như sau: Lợi dụng sơ hở trong khâu quản lý kho hàng, cụ thể đối với những đơn hàng mà shipper chưa giao được cho khách mang về trả lại, shipper chủ động mang vào khu vực kho chứa hàng, quản lí chỉ kiểm tra số lượng đơn hàng hoàn về chứ không kiểm tra kĩ về thông tin và tình trạng gói hàng. TR đã tự làm ra những hộp hàng có kích thước giống với những hộp hàng thật (bên trong không có hàng) rồi dán mã vận đơn (bill) sau đó mang trả lại kho Hub Long Biên với lí do khách hàng từ chối nhận hàng, mục đích là chiếm đoạt tiền hàng. Do thực tế khách hàng đã nhận được hàng nên TR đã dùng tài khoản cá nhân trên ứng dụng S để xác nhận khách hàng không nhận hàng đối với 12 đơn hàng mà bị cáo đã chiếm đoạt tránh sự phát hiện của công ty.

Với thủ đoạn trên, từ khoảng tháng 9/2022 đến hết ngày 07/10/2022, TR đã chiếm đoạt được số tiền 14.425.327 đồng, cụ thể như sau:

Từ khoảng tháng 09 năm 2022 đến hết ngày 07 tháng 10 năm 2022, NGUYỄN XUÂN TR nhận 12 đơn hàng từ Hub Long Biên để đi giao. TR đã giao hàng tới 12 khách hàng đặt mua hàng và đã nhận đủ số tiền hàng mà khách thanh toán là 14.425.327 đồng. Tuy nhiên, sau khi thu tiền hàng TR đã không giao nộp lại tiền thu hộ COD về cho Công ty S mà sử dụng để chi tiêu cá nhân. Khi Hub Long Biên liên hệ trả lại các hộp hàng (do TR mang về trả lại) cho bên bán hàng thì phát hiện bên trong không có hàng. Công ty S đã rất nhiều lần liên hệ yêu cầu TR trả số tiền mà TR đã chiếm đoạt trên nhưng TR cố tình né tránh, cắt liên lạc. Vì vậy, Công ty S đã làm đơn tố giác NGUYỄN XUÂN TR.

Lời khai của TR phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm việc, ghi lời khai của 12 khách hàng đặt mua 12 đơn hàng, kết quả đều xác nhận có sử dụng ứng dụng S để đặt mua những sản phẩm có mã đơn hàng và giá tiền đã thống kê như trên. Khi nhân viên giao hàng S tới, những khách hàng này đã kiểm tra và đồng ý nhận hàng và thanh toán đủ tiền không yêu cầu hoàn hàng hoặc không nhận hàng.

Quá trình điều tra, Công ty S đã cung cấp 01 bản tường trình do NGUYỄN XUÂN TR viết với nội dung khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản là tiền hàng của công ty. Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội giám định chữ viết, chữ ký đối với tài liệu nêu trên. Kết quả tại bản kết luận giám định số 2276 ngày 17/04/2023 đã kết luận: Chữ viết phần nội dung và chữ ký, chữ viết đứng tên NGUYỄN XUÂN TR trên mẫu cần giám định với chữ ký, chữ viết đứng tên NGUYỄN XUÂN TR trên các mẫu so sánh là chữ do cùng một người ký, viết ra.

Về dân sự: Ngày 16/5/2023, Công ty TNHH SE xác nhận TR đã bồi thường đủ số tiền 14.425.327 đồng. Công ty đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho NGUYỄN XUÂN TR

Đối với chị Trần Thị H (sinh năm: 1995, HKTT: BĐ, LB, H) nhân viên quản lý kho, là người TR nhờ in lại bill đơn hàng không biết mục đích của TR là nhằm chiếm đoạt tài sản nên Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKS-LB ngày 31/05/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố NGUYỄN XUÂN TR về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát quận Long Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tiền sự: Ngày 30/11/2022, Công an quận Long Biên xử lý hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (chưa hết thời hiệu), xác định bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo NGUYỄN XUÂN TR mức án từ 10 đến 15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 14.425.327 đồng cho Công ty S nên không đề nghị xem xét.

Đối với chị Trần Thị H do không biết TR có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản nên không đặt vấn đề xử lý

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, bị cáo và bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 09/2022 đến ngày 07/10/2022, bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền hàng là 14.425.327 đồng của Công ty S. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Về tiền sự: Ngày 30/11/2022, Công an quận Long Biên xử lý hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (chưa hết thời hiệu), Hội đồng xét xử xác định bị cáo có nhân thân xấu. Căn cứ theo tính chất tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 14.425.327 đồng cho Công ty S nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN XUÂN TR phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo NGUYỄN XUÂN TR 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ