vanban.org

Bản án 135/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Văn M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã C, thị xã S, Thành phố H quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ H
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135 /2023/HS-ST
Ngày 26/9/2022;

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Miến;

Bà Nguyễn Thị Mai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lân, Thư ký, Toà án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023; tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 127/2022/TLST – HS ngày 11 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003; tại xã P, huyện T, thành phố H; nơi cư trú: Thôn Phúc Lộc, xã C, thị xã S, Thành phố H; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Sung, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Chinh, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: không; Tạm giữ: Từ ngày 06/6/2023 đến ngày 15/6/2023, tạm giam: Không; Danh chỉ bản số 272 do Công an huyện T lập ngày 15/6/2023. Có mặt.

* Bị hại: Chị Vương Thị Lụa, sinh năm 2003; vắng mặt;

Trú tại: Thôn Yên Mỹ, xã Bình Yên, huyện T, thành phố H;

- Người làm chứng: Anh Dương Huỳnh Dương, sinh năm 2004; vắng mặt;

Địa chỉ: Ấp 4, thị trấn Vĩnh Viến, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2021, Nguyễn Văn M có quan hệ tình cảm với chị Vương Thị Lụa (Sinh năm 2003, trú tại: thôn Yên Mỹ, xã Bình Yên, huyện T, thành phố H). Quá trình yêu nhau, M và chị Lụa quan hệ tình dục với nhau và quay 01 video có độ dài 07 phút 45 giây, dung lượng 17821 KB. Sau đó, chị Lụa gửi đoạn video này cho M để lưu giữ kỷ niệm, M đã tải đoạn video này về và lưu trong điện thoại của M. Khoảng tháng 3/2022, chị Lụa và M mâu thuẫn với nhau nên chia tay và chị Lụa đã xoá bỏ video quan hệ tình dục với M.

Ngày 18/10/2022, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên M nảy sinh ý định sử dụng đoạn video quan hệ tình dục trên để gửi cho chị Lụa nhằm đe dọa Lụa phải đưa tiền cho M. Khoảng 12 giờ cùng ngày, M lập 01 tài khoản Faccebook có tên “Nguyen Anh” kết bạn với tài khoản facebook “Vương Lụa” của chị Lụa và gửi đoạn video quan hệ tình dục trên cho chị Lụa, M yêu cầu chị Lụa phải chuyển cho M 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), nếu không M sẽ gửi đoạn video này cho bạn trai và người quen của chị Lụa và đăng tải lên các trang mạng xã hội. Sau khi nhận được đoạn video chị Lụa nhắn tin cho M hỏi về đoạn video quan hệ tình dục giữa M và chị Lụa thì M sử dụng tài khoản “Nguyen Anh” gửi đoạn video này sang tài khoản facebook “Nguyễn M” của M. Đồng thời nhắn các tin nhắn đe dọa, yêu cầu chuyển tiền. Sau đó, M chụp màn hình tin nhắn này và gửi cho chị Lụa và nói rằng bản thân cũng bị đối tượng lạ này đe dọa, yêu cầu chuyển tiền để chị Lụa không nghi ngờ. Sau đó, chị Lụa nói chuyện, thương lượng với tài khoản Facebook” Nguyen Anh” (thực chất là bị can M) và xin giảm số tiền xuống thì M dùng tài khoản “Nguyen Anh” nhắn chị Lụa yêu cầu chị Lụa chuyển 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) nhằm ép chị Lụa nhanh chóng chuyển tiền. Sau một hồi thương lượng thì M đồng ý và giảm số tiền xuống 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) và gửi cho chị Lụa tài khoản ngân hàng Nam Á Bank số 603135998400001 của Dương Huỳnh Dương (sinh năm 2004, trú tại: Ấp 4, thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, là bạn của M). Sau đó, M nhắn tin cho chị Lụa qua tài khoản Facebook “Nguyễn M”, M và chị Lụa thống nhất mỗi người sẽ chuẩn bị số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để chuyển tiền theo yêu cầu. Khoảng 21 giờ 24 phút ngày 19/10/2022, do liên tục bị M sử dụng Facebook “Nguyen Anh” đe dọa và yêu cầu chuyển tiền nên chị Lụa đã chuyển 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng MB Bank số 0987032906 của chị Lụa đến số tài khoản ngân hàng Nam A Bank số 603135998400001 của Dương Huỳnh Dương. Ngày 20/10/2022, Dương chuyển khoản số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cho M qua số tài khoản ngân hàng Vietcombank số 937982997 của M. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 20/10/2022, M đã nhắn tin cho chị Lụa thừa nhận việc mình là người sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Anh” để gửi video, đe dọa và yêu cầu chị Lụa chuyển tiền. Số tiền chiếm đoạt được của chị Lụa, M đã tiêu xài cá nhân hết, đồng thời M cũng xóa tài khoản facebook “Nguyen Anh”.

Ngày 05/6/2023 Nguyễn Văn M đến Cơ quan Công an đầu thú.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) video có dung lượng 17821 KB, độ dài 07 phút 45 giây ghi lại cảnh quan hệ tình dục mà tài khoản “Nguyen Anh” sử dụng để đe doạ chị Vương Thị Lụa chuyển tiền.

Về trách nhiệm dân sự : Nguyễn Văn M đã trả chị Vương Thị Lụa số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) là số tiền chị Lụa đã chuyển cho M. Chị Lụa không có yêu cầu đề nghị bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho M.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSTT ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn M từ 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 -30 tháng. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 đoạn video lưu theo hồ sơ vụ án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do cần tiền tiêu sàu cá nhân, ngày 18/10/2022 Nguyễn Văn M đã sử dụng video quan hệ tình dục giữa M và chị Vương Thị Lụa để gửi cho chị Lụa nhằm đe dọa, ép chị Lụa phải chuyển cho M số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố H truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền chiếm đoạt không lớn, đã bồi thường trả lại bị hại tiền chiếm đoạt và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện đang là sinh viên nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập trở thành người có ích cho xã hội là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Vương Thị Lụa không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với đoạn video là tài liệu chứng cứ nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với việc Dương Huỳnh Dương cho M mượn tài khoản ngân hàng để chị Lụa chuyển tiền ngày 19/10/2023. Bản thân anh Dương không biết M đe dọa ép chị Lụa chuyển tiền vào tài khoản của Dương và Dương cũng không được hưởng lợi gì từ việc cho M mượn tài khoản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã C, thị xã S, Thành phố H quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ