- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HON"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17 – 8 – 2023 “ V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Thu Hà.
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 289/2023/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2023/QĐXX - ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2023/QĐST – HNGĐ ngày 01/8/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Bích T, sinh năm: 1991 (Vắng, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Văn X, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: ấp An Lạc 2, xã Trung An, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Võ Thị Bích T trình bày:
- Về mối quan hệ hôn nhân: Chị và anh X hôn nhân hình thành là do mai mối nhưng có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung An vào ngày 17/6/2013. Sau ngày cưới chị sống làm dâu bên chồng đến tháng 5 năm 2019 thì chị và anh X lên thành phố Hồ Chí Minh làm thuê. Thời gian đầu chị và anh X chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2021. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường X cự cải, không còn hạnh phúc. Chị và anh X đã ly thân từ tháng 9 năm 2022 đến nay.
Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh X.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc Uyên, sinh ngày 15/01/2015 và cháu Trần Chí Bảo, sinh ngày 14/7/2019 hiện nay đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu Uyên và cháu Bảo đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bảng khai ý kiến ngày 24/5/2023 cháu Trần Ngọc Uyên trình bày: Khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống với chị T.
- Bị đơn anh Trần Văn X vắng mặt tại phiên Tòa, không có lý do không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét thấy, nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Xét việc bị đơn anh X được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa chị T anh X có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị T anh X có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị T anh X đã ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã triệu tập anh X nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng anh X cố tình tránh né không đến Tòa án.
Từ đó, cho thấy anh X không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa chị T anh X đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh X là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T xác định chị và anh X có 02 con chung tên Trần Ngọc Uyên, sinh ngày 15/01/2015 và cháu Trần Chí Bảo, sinh ngày 14/7/2019. Hiện nay đang sống chung với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Uyên và cháu Bảo sống với chị T từ nhỏ cuộc sống ổn định, các cháu phát triển bình thường, cháu Uyên cũng có nguyện vọng sống với chị T. Nên giao cháu Uyên và cháu Bảo cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000đ. Xét yêu cầu này của chị X là có căn cứ chấp nhận một phần.
Bởi vì; để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu cho con sau khi cha mẹ ly hôn, pháp luật HNGĐ quy định “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” Mục tiêu của pháp luật hướng tới là đảm bảo tối đa lợi ích cho con sau khi cha mẹ ly hôn, giúp con có điều kiện phát triển toàn diện, vì vậy nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện đến khi con đã thành niên hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh X không trực tiếp nuôi dưỡng cháu Uyên và cháu Bảo nên nghĩa vụ cấp dưỡng là của anh X, nếu xét ở mức độ nào đó đây cũng có thể coi là sự bù đắp tổn thất của anh X đối với cháu Uyên và cháu Bảo. Tuy Luật có quy định người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng mức cấp dưỡng cũng sẽ phụ thuộc vào mức thu nhập của người phải cấp dưỡng. Chị T có trình bày anh X hiện làm bảo vệ cho công ty. Thiết nghĩ mức thu nhập cũng không cao, hơn nữa anh X sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh mức chi phí sinh hoạt là khá cao so với vùng nông thôn. Nên chị T yêu cầu mức cấp dưỡng mỗi tháng là cao so với thu nhập của anh X, chị T không chứng minh được mỗi tháng anh X thu nhập bao nhiêu tiền nên chỉ chấp nhận mức cấp dưỡng tương xứng với lương cơ bản là 1.000.000đ tháng/1 cháu là phù hợp theo Điều 110 luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh X không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh X không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu số tiền án phí là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Anh X phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn X.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Uyên, sinh ngày 15/01/2015 và cháu Trần Chí Bảo, sinh ngày 14/7/2019 cho chị Võ Thị Bích T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trần Văn X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Uyên và cháu Bảo đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Bích T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Võ Thị Bích T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- Chị Võ Thị Bích T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009464, ngày 22/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V. Chị Võ Thị Bích T đã nộp đủ không phải nộp thêm.
- Anh Trần Văn X phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện V; -Chi cục THADS huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. H CHAÙN THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Cường THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Nguyễn Quốc Cường |