- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 135/2023/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 8 năm 2023 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Lam
Ông Hoàng Văn Bình
Thư ký phiên toà : Ông Trần Văn Thỏa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tc, tỉnh NA.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 25/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 2 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lô Thị Ng, sinh năm 1996.
Nơi ĐKNKTT: Bản Thanh Dương, xã Thanh Sơn, huyện Tc, tỉnh NA.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 11, bản Vĩnh Kim, xã HS, huyện AS, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Vi Văn L, sinh năm 1992;
Nơi ĐKNKTT: Bản Thanh Dương, xã TS, huyện Tc, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai nguyên đơn chị Lô Thị Ng trình bày:
Chị và anh Vi Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Sơn, huyện Tc, tỉnh NA vào ngày 23 tháng 7 năm 2014.
Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn, sinh sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Vi Văn L.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vi Nhật Tr, sinh ngày 29/4/2014 và cháu Vi Thị Thùy Tr, sinh ngày 30/11/2020.
Nay vợ chồng ly hôn nhau nguyện vọng của chị là muốn trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Thị Thùy Tr, còn cháu Vi Nhật Tr để anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phái góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ: Hiện nay vợ chồng không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Vi Văn L đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của anh Vi Văn L thì anh thừa nhận về điều kiện kết hôn của vợ chồng đúng như chị Lô Thị Ng đã trình bày. Sau khi kết hôn xong thì vợ chồng về sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt.
Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên việc chị Lô Thị Ng xin ly hôn với anh thì anh hoàn toàn nhất trí.
Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Vi Nhật Tr, sinh ngày 29/4/2014 và cháu Vi Thị Thùy Tr, sinh ngày 30/11/2020. Nay ly hôn nguyện vọng của anh là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Nhật Tr, còn chị Lô Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Thị Thùy Tr và không bên nào phái góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị Ng được ly hôn với anh Vi Văn L.
Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cho anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Nhật Tr. Giao cho chị Lô Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Thị Thùy Tr. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Lô Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã Thanh Sơn, huyện Tc, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tc, tỉnh NA.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh Vi Văn L đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh đều vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt cho nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Vi Văn L và nguyên đơn chị Lô Thị Ng đều vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt cho nên việc xét xử vắng mặt anh Vi Văn L và chị Lô Thị Ng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chị Lô Thị Ng và anh Vi Văn L kết hôn với nhau hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Sơn, huyện Tc, tỉnh NA theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị Lô Thị Ng có nguyện vọng được ly hôn với anh Vi Văn L và anh Vi Văn L cũng thừa nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị Lô Thị Ng xin ly hôn với anh thì anh hoàn toàn nhất trí.
Xét thấy tình trạng Hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân cũng chỉ mang tính hình thức cho nên cần chấp nhận cho chị Lô Thị Ng được ly hôn với anh Vi Văn L là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Vi Nhật Tr, sinh ngày 29/4/2014; cháu Vi Thị Thùy Tr, sinh ngày 30/11/2020. Nay ly hôn chị Lô Thị Ng và anh Vi Văn L đều nhất trí giao cháu Vi Nhật Tr cho anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Vi Thị Thùy Tr cho chị Lô Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phái góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội và cũng phù hợp với ý kiến của cháu Vi Nhật Tr. Cho nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các bên về việc giao cháu Vi Nhật Tr cho anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Vi Thị Thùy Tr cho chị Lô Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phái góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về phân chia tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lô Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị Ng được ly hôn với anh Vi Văn L.
Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Vi Nhật Tr cho anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Vi Thị Thùy Tr cho chị Lô Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phái góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét
Về án phí: Buộc chị Lô Thị Ng phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009319 ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tc, tỉnh NA. Chị Lô Thị Ng đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - UBND Thanh Sơn( Nơi ĐKKH) - Các đương sự. - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Trƣờng Giang |