vanban.org

Bản án 135/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c Đi u 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Đi u 144,

147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Chí T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn c Đi u 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Đi u 144,
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 135/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Được;

2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 125/2023/TLST-

HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày

10 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2023/QĐST-HNGĐ

ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Chí T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện

C, tỉnh An Giang; (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp L, xã L,

huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn ông Trần Chí T trình bày, do quen biết, ông T và bà N kết hôn

vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ H, thành phố L,

tỉnh An Giang vào ngày 21/11/2017. Trong thời gian chung sống, vợ chồng

không có con chung. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét,

giải quyết.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khi vợ chồng cùng làm công nhân tại tỉnh Đồng Nai bà N về nhà mẹ ruột, bà N đi Nều lần không trở lên lại Đồng Nai. Bà N yêu cầu tông T về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để làm công nhân, sự việc này không được ông T đồng ý. Từ năm 2019 đến nay bà N và ông T đã không còn chung sống với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, nay ông T yêu cầu ly hôn với bà N.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà

N; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: giấy chứng nhận kết hôn số 155, ngày 21/11/2017 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ H, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trần Chí T.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng

vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Ông Trần Chí T và bà Nguyễn Thị

Thanh N quen biết, tự tìm hiểu, rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại xã Mỹ H, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 21/11/2017, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khi vợ chồng cùng làm công nhân tại tỉnh Đồng Nai bà N về nhà mẹ ruột, bà N đi Nều lần không trở lên lại Đồng Nai. Bà N yêu cầu ông T về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để làm công nhân, sự việc này không được ông T đồng ý và ly thân từ năm 2019 đến nay.

Nhận thấy, việc mâu thuẫn của ông T và bà N phát sinh từ năm 2018 và

đã ly thân từ năm 2019 đó đến nay, cả hai không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng và trong quá trình giải quyết vụ án bà N không tạo điều kiện để hàn gắn, nên có cơ sở xác định mâu thuẫn của vợ chồng trở nên trầm trọng, mục

đích hôn nhân không đạt. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận

yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà N.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của

Luật Hôn nhân và Gia đình:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Chí T đối với bà Nguyễn Thị

Thanh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Trần Chí T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh N.

Đồng thời, bà N cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về

hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Thanh N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa

nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo quy

định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Ông T và bà N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định

của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N là hợp pháp, được pháp

luật thừa nhận và bảo vệ.

Ông T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng cùng làm công

nhân tại tỉnh Đồng Nai bà N về nhà mẹ ruột, bà N đi Nều lần không trở lên lại

Đồng Nai. Bà N yêu cầu ông T về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để làm

công nhân, sự việc này không được ông T đồng ý và không còn sống chung từ

năm 2019 đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, ông T và bà

N không tìm ra tiếng nói chung và không còn sống chung từ năm 2019 nay. Vợ

chồng không quan T, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ

Thông báo thụ lý vụ án cho bà N nhưng bà N không có ý kiến phản đối yêu cầu

ly hôn của ông T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông T, bà N là

trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà N

theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không yêu cầu Tòa

án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét

xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c Đi u 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Đi u 144,

147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Chí T.

1. Về hôn nhân: Ông Trần Chí T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh

N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 155, ngày 21/11/2017 do Ủy ban nhân dân xã

Mỹ H, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trần Chí T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Ông Trần Chí T xác định, ông T và bà Nguyễn Thị

Thanh N không có con chung.

3 Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

Ông Trần Chí T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm

nghìn) đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013316 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 02 năm 2023; ông Trần Chí T đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị Thanh N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trần Chí T có quyền

kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh N được tính là 15

ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2

Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành

án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6,

7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy

định tại Đi u 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

Ngô Văn Được Nguyễn Văn Hồng

Cỡ chữ