- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xét xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên gọi khác: Dũng) phạm tội “Cố ý gây Thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| T A ÁN NH N D N T NH B NH TH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2022/HS-PT Ngày: 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC C NG H A XÃ H I CH NGH A V T NAM
T A ÁN NH N D N T NH B NH TH N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Thái; bà Vũ Thị Thanh Hòa.
- T2 ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 120/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu T (Dũng) - sinh năm 1976 tại Campuchia; Nơi cư trú: Thôn Z, xã X, huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu B (đã chết) và bà Trần Thị B1 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Có vợ là Huỳnh Thị T1, sinh năm 1976; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2010; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
N D NG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/12/2021, Nguyễn Hữu T đến nhà ông Nguyễn Phú Đ ở thôn Z, xã X, huyện Y thì gặp ông Đ và Trần Văn Q đang ngồi uống rượu nên ông Đ mời Nguyễn Hữu T ngồi uống rượu cùng. Khoảng 20 phút sau thì có Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T2, Đỗ Thị N cũng đến nhà ông Đ và ngồi uống rượu cùng. Trong lúc uống rượu thì Nguyễn Hữu T và Nguyễn Văn H xảy ra mâu thuẫn cãi vã trong việc thách đố nhau việc lùi xe máy cày thì được mọi người can ngăn. Sau đó, Nguyễn Văn H nói với Nguyễn Hữu T “mày đánh bài không, mày giỏi thì bỏ ra đánh tay đôi với tao một ván vài chục triệu?”, thì T nói lại “tôi làm gì có tiền mà chơi với ông”, Nguyễn Văn H nói tiếp “Đ.M mày có đẳng cấp gì mà chơi với tao”, Nguyễn Hữu T nói “ông đừng có Đ.M tôi, mẹ tôi chết rồi” thì Nguyễn Văn H nói “tao Đ.M mày đó, mày làm gì được tao, tao đánh chết mẹ mày luôn bây giờ”, Nguyễn Hữu T nói lại “ông muốn gì thì ra khỏi nhà thằng Đ nói chuyện với tôi” rồi T đứng dậy đi ra đường nhựa trước nhà ông Đ thì Nguyễn Văn H đi theo sau. Khi ra đến đường thì hai bên tiếp tục xảy ra cãi vã, xô xát nhau và dùng tay chân đấm đá nhau.
Lúc này, Nguyễn Văn T2 chạy ra can ngăn thì Nguyễn Hữu T dùng tay đấm T2 trúng vào bàn tay trái của T2 gây thương tích (gãy kín xương bàn V ngón tay trái). Sau đó, T và H tiếp tục xông vào ôm vật nhau dưới đường. Lúc này, ông Nguyễn Phú Đ và ông Trần Văn Q vào can ngăn kéo hai người ra, Nguyễn Hữu T dùng tay xô H từ phía sau làm H ngã xuống mặt đường. Lúc này, mọi người la lên và chạy đến đưa Nguyễn Văn H đến Trung tâm y tế huyện Y cấp cứu.
Ngày 10/01/2022, Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Hữu T.
Tại Kết luận giám định pháp y Thương tích số 136/2022/TgT ngày 22/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Thuận kết luận Thương tích của Nguyễn Văn H:
- Vết Thương phần mềm vùng chẩm đã được điều trị, hiện để sẹo lành kích T2ớc (3 x 1) cm. Tỷ lệ tổn Thương cơ thể là 2%;
- Chấn Thương vai phải, gãy đầu ngoài xương đòn phải đã được điều trị, hiện vai phải cử động đưa tay lên cao, ra sau còn đau; dạng, khép cánh tay bình Thường. Tỷ lệ tổn Thương cơ thể là 10%;
- Tổng tỷ lệ tổn Thương cơ thể do Thương tích trên gây nên hiện tại là 12%.
- Vết Thương, chấn Thương do vật tày gây ra.
- Vết Thương vùng chẩm có chiều hướng tác động từ sau ra trước; chấn Thương vai phải có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới.
Tại Kết luận giám định pháp y Thương tích số 135/2022/TgT ngày 22/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Thuận kết luận Thương tích của Nguyễn Văn T2:
- Chấn Thương bàn tay trái, gãy kín xương bàn V bàn tay trái đã được điều trị, hiện lệch trục cal xương, các ngón tay bàn tay trái cử động gấp, duỗi, dạng, khép ngón bình Thường. Tỷ lệ tổn Thương cơ thể là 10 %.
- Chấn Thương vùng đỉnh đầu đã được điều trị, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn Thương cơ thể.
- Bỏng độ I mu bàn tay trái đã được điều trị, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn Thương cơ thể.
- Tổng tỷ lệ tổn Thương cơ thể do Thương tích gây nên hiện tại là 10%.
- Chấn Thương bàn tay trái do vật tày gây ra.
- Chấn Thương bàn tay trái có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây Thương.
Vật chứng thu giữ: Công an xã X đã tiến Hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
Về phần dân sự:
- Nguyễn Văn H yêu cầu bồi Thường tổng số tiền là 43.300.000 đồng, bao gồm: Tiền điều trị Thương tích là 7.900.000 đồng; chi phí tổn thất ngày công lao động là 300.000 đồng/ngày x 78 ngày (từ ngày 27/12/2021 đến 27/3/2022) = 23.400.000 đồng; chi phí tổn thất tinh thần là 12.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn T2 yêu cầu bồi Thường tổng số tiền là 10.500.000 đồng bao gồm: Tiền tổn thất ngày công lao động là 300.000 đồng/ngày x 20 ngày (từ ngày 21/12/2021 đến 02/01/2022) = 6.000.000 đồng; tiền thuốc để bó tay gãy là 3.000.000 đồng; tiền thuê xe đi giám định Thương tích 1.500.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y quyết định:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 136; Điều 260; Điều 290; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (Dũng) phạm tội “Cố ý gây Thương tích”;
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Hữu T (Dũng) 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp Hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi Hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hữu T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý gây Thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để tuyên phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã chủ động nộp tiền bồi Thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt; ngoài ra, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi; xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
NH N ĐỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm;
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T:
Hội đồng xét xử thấy rằng: Do đó mâu thuẫn trước đó với bị hại Nguyễn Văn H nên khoảng 18 giờ 50 phút ngày 19/12/2021, tại trước nhà ông Nguyễn Phú Đ thuộc thôn Z, xã X, huyện Y, bị cáo T đã có Hành vi dùng tay, chân gây Thương tích cho bị hại Nguyễn Văn H với tỷ lệ tổn Thương cơ thể là 12%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý gây Thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ Hành vi phạm tội, áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy sau khi kháng cáo, bị cáo giao nộp được tài liệu, chứng cứ mới là các biên lai thu tiền của Chi cục thi Hành án dân sự huyện Y về việc bị cáo tự nguyện bồi Thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó cần áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là có căn cứ. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, đủ điều kiện đượnc hưởng án treo. Sau khi cân nhắc, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên gọi khác: Dũng) phạm tội “Cố ý gây Thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (29/11/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi Hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.670.590 đồng mà bị cáo Nguyễn Hữu T đã nộp tại Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Y theo 03 biên lai thu tiền số 0005153, số 0005154 ngày 11/8/2022 và số 0005164 ngày 21/11/2022 để đảm bảo thi Hành án.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2022)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - VKSND huyện;TAND huyện Y; - Công an huyện; Chi cục THADS Y; - UBND xã X, huyện Y; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án. | TM. H Đ NG X T X PHÚC TH M TH M PHÁN – CH T A PH N T A (đã ký) Trần Phước Hiệu |