vanban.org

Bản án 135/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Thành K.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Thành K được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ T. Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 25/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Thành K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 135/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt;

2. Ông Nguyễn Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/6/2022 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 201/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Dương Thành K, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Tây Bình C, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị Mỹ T, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Tây Bình B, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Dương Thành K trình bày: Anh Dương Thành K với chị Bùi Thị Mỹ T chung sống với nhau từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 25/11/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến ngày 28/8/2019 vợ chồng chỉ xảy ra cự cãi về vấn đề kinh tế rồi chị T tự ý bỏ nhà đi đến nay không về, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh K yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ T. Về quan hệ con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Đối với bị đơn chị Bùi Thị Mỹ T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Bùi Thị Mỹ T nhưng chị T đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị T.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh K, chị T tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Chánh thể hiện: Anh K và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Chánh. Đối với chuyện mâu thuẫn vợ chồng của anh K, chị T thì chính quyền địa phương không rõ.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh K được ly hôn với chị T. Về con chung: không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh K yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Bị đơn chị Bùi Thị Mỹ T cư trú tại ấp Tây Bình B, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Thành K chung sống với chị Bùi Thị Mỹ T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, anh K và chị T chung sống hạnh phúc nhưng đến ngày 28/8/2019 vợ chồng xảy ra cự cãi về vấn đề kinh tế, chị T bỏ nhà đi đến nay không về, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị T thỉnh thoảng có về địa phương nhưng vợ chồng không còn quan tâm nhau. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K đối với chị T.

Về con chung: Qua chứng cứ anh K cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại UBND xã Vĩnh Trạch thì anh Dương Thành K và chị Bùi Thị Mỹ T không có con chung nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh K trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh K là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Thành K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Thành K được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 25/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

- Về tài sản chung: Anh Dương Thành K trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về nợ chung: Anh Dương Thành K trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Dương Thành K và chị Bùi Thị Mỹ T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí sơ thẩm: Anh Dương Thành K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009314 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh K đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Bùi Thị Mỹ T không phải chịu án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ