- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Kim L ly hôn với Dương Văn N"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 135/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-9-2022 V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Hữu Trí;
2. Bà Mai Hồng Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 345/2022/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị Kim L, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt);
Cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, An Giang.
Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx
2. Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Cư trú: Số C, ấp H, thị trấn A, C, An Giang.
Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị Kim L trình bày:
Vào khoảng năm 2006, do tự tìm hiểu nên chị và anh Dương Văn N quyết định chung sống với nhau, hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy số 17/TP.CĐ, ngày 08/9/2006 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Vì cha mẹ chồng đều đã chết, nên chị không làm dâu, sau khi cưới thì vợ chồng ở nhà trọ, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân: Do bất đồng quam điểm, cả hai đã có lời lẽ cử chỉ, hành động thiếu tôn trọng nhau, anh N không lo tiếp kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mất tình cảm nên đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Do tình tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hòa giải đoàn tụ được nên chị xin ly hôn với anh N.
Quá trình chung sống chị và anh N có 02 con chung tên Dương Hải K, sinh ngày 10/12/2006 và Dương Hải Đ, sinh ngày 25/9/2015; Hiện 02 cháu đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu Hải K và H, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Do bận đi làm công nhân cho Công ty tại tỉnh Bình Dương; bên cạnh đó tình hình dịch bệnh vẫn còn đang diễn biến phức tạp, điều kiện đi tới lui rất khó khăn nên chị Huỳnh N1 xin được vắng mặt tại các phiên xét xử tại Tòa án.
* Đối với bị đơn anh Dương Văn N: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh N đều vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của anh N xác định anh Dương Văn N có nơi cư trú tại ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Hiện tại anh Dương Văn N đi làm thường xuyên, ít có mặt tại nhà và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Kim L.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Kim L có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh N: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Kim L, giải quyết cho chị Mai Thị Kim L được ly hôn với anh N; về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Hải K và Hải Đăng cho chị Mai Thị Kim L tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Mai Thị Kim L không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Mai Thị Kim L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Mai Thị Kim L và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 9 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị Mai Thị Kim L yêu cầu ly hôn với anh N. Anh N có hộ khẩu thường trú ở ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về sự có mặt của đương sự: Chị Kim L có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin vắng mặt của chị Kim L hợp lệ nên được chấp nhận. Đối với anh Dương Văn N là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Kim L xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 14 năm, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, tin tưởng và quan tâm chăm sóc lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Mai Thị Kim L và anh N đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị Mai Thị Kim L xác định hai người đã bất đồng quan điểm, có lời lẽ cử chỉ, hành động thiếu tôn trọng nhau, anh N lại không lo tiếp kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh N theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh N vắng mặt tại nhà (BL 37), anh N thường xuyên không có mặt tại địa phương, quá trình giải quyết anh N đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh N vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Mai Thị Kim L. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Mai Thị Kim L và anh N đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Kim L là được ly hôn với anh Dương Văn N.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Mai Thị Kim L thừa nhận 02 cháu tên tên Dương Hải K, sinh ngày 10/12/2006 và Dương Hải Đ, sinh ngày 25/9/2015 là con chung của chị và anh Dương Văn N, mặt khác giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận 02 cháu Hải K và Hải Đ là con chung của chị Mai Thị Kim L và anh N, hai cháu hiện đang sống với chị Mai Thị Kim L. Sau khi ly hôn, chị Mai Thị Kim L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì hai cháu Hải K và Hải Đ sống với chị Mai Thị Kim L, đồng thời Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với cháu Hải K thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ (BL số 28). Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Kim L là được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Hải K và Hải Đ.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Mai Thị Kim L không yêu cầu anh Dương Văn N cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Anh Dương Văn N có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Do chị Mai Thị Kim L có yêu cầu ly hôn với anh Dương Văn N nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Kim L được ly hôn với anh Dương Văn N. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17/TP.CĐ, quyển số 0I, ngày 08/9/2006 do Ủy ban nhân dân xã C (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu Dương Hải K, sinh ngày 10/12/2006 và Dương Hải Đ, sinh ngày 25/9/2015 là con chung của chị Mai Thị Kim L và anh Dương Văn N;
+ Tiếp tục giao cháu Dương Hải K và Dương Hải Đ cho chị Mai Thị Kim L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện 02 cháu H và Hải Đ đang sống chung với chị Mai Thị Kim L); Anh Dương Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Mai Thị Kim L, do chị Mai Thị Kim L không yêu cầu;
+ Chị Mai Thị Kim L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Dương Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Mai Thị Kim L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0002623 ngày 07/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, được khấu trừ nên chị Mai Thị Kim L đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị Kim L và anh Dương Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND.Châu Thành; - Chi cục THADS.Châu Thành; - UBND xã Cần Đăng; - Phòng KTNV và THA; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |