vanban.org

Bản án 135/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim D đối với anh Nguyễn Duy H về hợp đồng vay tài sản.

Buộc anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim D số tiền 126.723.000 (một trăm hai mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn) đồng, bao gồm: 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng tiền vay gốc và 6.723.000 (sáu triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn) đồng tiền lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Kim D khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả lại cho bà số tiền vay còn nợ là lại 120.000.000 đồng cùng tiền lãi theo…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim D đối với anh Nguyễn Duy H về hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2022/DS-ST
Ngày: 30-9-2022
V/v “Tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Ngân;

Bà Nguyễn Thị Thu Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Thế Ân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2022/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim D, sinh năm 1956 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 10, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 37, Khu phố 1, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 30/6/2022) (có đơn vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 3, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/6/2022 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Kim D là anh Nguyễn Minh S trình bày:

Ngày 04/3/2022, bà D có cho anh Nguyễn Duy H vay số tiền 300.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng, anh H có viết giấy nhận nợ và hẹn đến ngày 08/3/2022 sẽ hoàn trả cho bà D toàn bộ số tiền đã vay.

Tuy nhiên đến thời hạn trả nợ, anh H chỉ trả lại cho bà D số tiền 180.000.000 đồng, còn lại số tiền 120.000.000 đồng bà D đã nhiều lần yêu cầu anh H trả lại, nhưng anh H vẫn không trả.

Nay yêu cầu anh H có nghĩa vụ trả lại cho bà D số tiền vay gốc 120.000.000 đồng và tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ với mức 10%/năm, kể từ ngày 08/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn – anh Nguyễn Duy H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không đến, không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội D: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Kim D. Buộc anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền vay gốc 120.000.000 đồng cùng tiền lãi với mức 10%/năm kể từ ngày 08/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm. Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn cư trú tại: ấp An Điền, xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Bà Nguyễn Kim D vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Minh S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Duy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, anh S và anh H.

* Về nội D:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim D, yêu cầu anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền vay gốc còn nợ lại là 120.000.000 đồng cùng tiền lãi với mức 10%/năm, kể từ ngày 08/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm thì thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, nhưng anh H không đến Tòa án, không có yêu cầu phản tố và cũng không gửi Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.

Do đó, đây được xem là trường hợp anh H không phản đối, căn cứ vào quy định khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng chứng cứ là “Giấy mượn tiền” do phía nguyên đơn cung cấp là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Nên có cơ sở kết luận giữa bà D với anh H có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản với nhau như phía nguyên đơn trình bày là có thật.

Xét “Giấy mượn tiền” đề ngày 04/3/2022 do nguyên đơn cung cấp thể hiện: Thời hạn trả là ngày 08/3/2022, không thể hiện lãi suất. Do đó, hợp đồng vay tài sản giữa hai bên được xác định là vay có kỳ hạn và không có lãi. Căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự, thì yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, kể từ ngày 08/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm của nguyên đơn là có căn cứ.

Lãi chậm thực hiện nghĩa vụ được tính như sau: Từ ngày 08/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (30/9/2022) là 06 tháng 22 ngày = 120.000.000 đồng x 10%/năm x 06 tháng 22 ngày = 6.723.000đồng.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim D. Buộc anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền vay gốc còn nợ lại là 120.000.000 đồng và 6.723.000 đồng tiền lãi.

Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, xét thấy: Đây là đề nghị có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh Nguyễn Duy H phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm đối với toàn bộ yêu cầu của bà D được chấp nhận, theo quy định tại Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim D đối với anh Nguyễn Duy H về hợp đồng vay tài sản.

Buộc anh Nguyễn Duy H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim D số tiền 126.723.000 (một trăm hai mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn) đồng, bao gồm: 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng tiền vay gốc và 6.723.000 (sáu triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn) đồng tiền lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Anh Nguyễn Duy H phải chịu 6.336.000 (sáu triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Kim D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0017560 ngày 14/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ