- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Long H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Long H, bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2021/HSST Ngày: 09 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thị Lệ
2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 146/2021/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:
1/ Hồ Long H; giới tính: Nam, sinh năm 1988 tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 406 Lô V, chung cư H, đường L, Phường M, quận G, Tp. H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Con ông Hồ Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Hoàn cảnh gia đình; có vợ tên Vi Thị Diệu H (đã chết) có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự : không. Nhân thân: Ngày 19/3/2009, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 03 năm tù giam về tội “ cướp giật tài sản” chấp hành án tại trại giam An Phước đến ngày 30/8/2010 được đặc xá. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 11/5/2021. Bị cáo (có mặt).
2/ Nguyễn Quốc T; giới tính: Nam, sinh năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 181/69/9F Phan Đăng L, Phường N, quận Ph, Thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Con ông Lê Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Kim H (sinh năm 1965); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Nguyễn Thị Thu H; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 01/5/2021. Bị cáo (có mặt) .
Bị hại : - Bà Đặng Thị Tú N, sinh năm 1994; địa chỉ: 269/45 Phan H, Phường J, quận G, Thành phố H( vắng mặt)
- Bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1993; Cùng trú tại: 269/45 Phan H, Phường J, quận G, Thành phố H (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Ông Lê Trọng H, sinh năm 1988; Cùng trú tại: Ấp Tây H, xã Tam B, huyện C, tỉnh T (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Phương L , sinh năm 1984; trú tại: 213/4 Trần Kế Xương, Phường 07, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/4/2021 chị Đặng Thị Tú N và chị Võ Thị Tuyết M cùng cư ngụ tại 269/45 Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp đến Công an phường 14, quận Gò Vấp trình báo bị mất trộm 02 chiếc xe máy (01 chiếc hiệu Honda Vision màu đỏ nâu, biển số 81N1- 199.65 của chị Nh và 01 chiếc hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64 của chị Mai). Qua rà soát camera tại khu nhà trọ và lời khai của quản lý nhà trọ là anh Tô Phúc Hậu xác định có 02 đối tượng lấy trộm 02 chiếc xe máy trên vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 30/4/2021. Trong đó, xác định có 01 đối tượng tên Hồ Ngọc H(sinh năm: 1992, thường trú: Cà Dâm, Tân Công Sính, Tam Nông, Đồng Tháp, theo giấy chứng minh nhân dân của đối tượng cung cấp) là người đã ở chơi tại nhà trọ được 02 ngày qua sự giới thiệu của người thuê phòng trọ là anh Chu Ngọc Triển (sinh năm: 1979, thường trú: 18/339 Lê Đức Thọ, phường 15, quận Gò Vấp). Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 30/4/2021, Hà mở cửa cho 01 nam thanh niên vào khu phòng trọ và cùng lấy trộm 02 xe máy trên. Qua truy xét Cơ quan điều tra đã xác định được Nguyễn Quốc T cùng Hồ Long H thực hiện việc lấy trộm 02 xe máy nêu trên, trong đó Hải chính là người sử dụng giấy Chứng minh nhân dân mang tên Hồ Ngọc Hà.
Ngày 01/5/2021, Nguyễn Quốc T đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi cùng với Hồ Long H thực hiện việc lấy trộm 02 xe máy tại địa chỉ 269/45 Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp. Đồng thời, Tấn đã dẫn Cơ quan Công an thu hồi được 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đen bạc, biển số 63B2-032.64 và 01 biển số 81N1- 199.65.
Đến ngày 11/5/2021, Công an phường 7, quận Phú Nhuận kiểm tra trước địa chỉ 46/4 Diêu Tú, phường 7, quận Phú Nhuận phát hiện Hồ Long H có dấu hiệu nghi vấn nên mời về trụ sở làm rõ và thông báo, bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp xử lý theo quy định. Tại Cơ quan điều tra, Hồ Long H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hải khai vào ngày 24/4/2021, Hải cùng con trai có qua phòng trọ địa chỉ số 269/45 Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp ở chung với anh Chu Ngọc Triển. Sau đó muốn ở chung với anh Triển, Hải đã làm mất giấy chứng minh nhân dân nên Hải đã chụp hình thẻ, dán vào một chứng minh nhân dân mang tên Hồ Ngọc H(do Hải nhặt được trước đó) để đưa cho quản lý phòng trọ là anh Tô Phúc Hậu, đăng ký dấu vân tay mở cửa phòng trọ. Sau đó, Hải nảy sinh ý định lấy trộm xe máy tại phòng trọ nên rủ Nguyễn Quốc T cùng thực hiện. Sau khi lấy trộm xe máy Honda Vision biển số 81N1-199.65 Hải đã đi đánh một chìa khóa mới rồi chạy xe về nhà của Tấn, tháo biển số 81N1-199.65 để lại nhà của Tấn, gắn biển số khác là 59Y3-567.37 vào để sử dụng và chạy qua quận Bình Thạnh tìm người để bán. Đến tối ngày 30/4/2021, Hải điều khiển xe máy nêu trên đến địa chỉ số 213/4 Trần Tế X, phường 7, quận P là nhà của chị Phạm Thị Phương L (sinh năm: 1984) để cầm xe máy trên cho chị L được số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó Hải không liên lạc được với Tấn. Qua làm việc chị Phạm Thị Phương L đã tự nguyện giao nộp xe máy Honda Vision biển số 59Y3-567.37, số máy: JF86E5198881, số khung: RLHJF5820LZ013501 cho Cơ quan điều tra. Qua đối chiếu, số máy, số khung xe trên trùng khớp với kết quả xác minh xe máy biển số 81N1-199.65 là xe máy chị Đặng Duy Tú Nh bị mất trộm ngày 30/4/2021. Chị L cho biết khi cho Hải vay số tiền 6.000.000 đồng thì chị L giữ xe máy Honda Vision biển số 59Y3-567.37, khi nào Hải trả lại tiền sẽ đưa lại xe cho Hải, chị L không biết đây là tài sản do Hải phạm tội mà có. 161 – 175; 193 – 197)
Vật chứng thu giữ:
+ 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision biển số 81N1-199.65, số máy: JF86E5198881, số khung: RLHJF5820LZ013501 (là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án). Qua xác minh chiếc xe trên do chị Đặng Duy Tú Nh đứng tên chủ sở hữu. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp quận - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận chiếc xe trên tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 27.800.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe trên cho chị Đặng Duy Tú Nh, chị Nh đã nhận lại xe máy để sử dụng và không có yêu cầu gì khác. (BL: 104 – 110)
+ 01 (Một) xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64, số máy: HC12E-2650149, số khung: RLHHC1206BY053805 (là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án). Căn cứ Kết luận giám định số 3391/KLGĐ-X(Đ3) ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Hồ Chí Minh xác định số khung không bị thay đổi, số máy đã bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy. Qua xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông Công an quận Gò Vấp, xe máy có biển số nêu trên do Lê Trọng H, địa chỉ: Ấp Tây H, xã Tam B, huyện C, tỉnh T đứng tên chủ xe. Qua làm việc với chị Võ Thị Tuyết M và bà Trần Thị Kim V (sinh năm: 1971, thường trú: xã Phú Ph, huyện Châu T, tỉnh Tiền G, là mẹ ruột của chị M) xác định vào tháng 01/2017 đã mua lại xe máy nêu trên của anh Lê Trọng H với giá 11.500.000 đồng, có làm giấy mua bán cho tặng xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Sau đó chị Võ Thị Tuyết M là người quản lý, sử dụng xe máy trên. Chị M cùng mẹ khi mua xe không kiểm tra số máy, số khung của xe nên không rõ số máy, số khung có bị thay đổi hay không. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ghi lời khai chủ đăng ký xe là anh Lê Trọng H làm rõ nguồn gốc và tình trạng xe tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Căn cứ Công văn số 730/HĐĐGTS ngày 22/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp xác định xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2-032.64 có số máy bị mài đục số, không rõ nguồn gốc xe, không đủ điều kiện cần thiết để tiến hành định giá, từ chối định giá của Cơ quan Cảnh sát điều tra đối với xe máy có đặc điểm nêu trên. Chị Võ Thị Tuyết M có yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền là 7.000.000 đồng.
+ 01 (Một) biển số xe máy 59Y3-567.37. Căn cứ Kết luận giám định số 3289/KLGĐ-TT ngày 26/5/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Hồ Chí Minh xác định là biển số giả. Nguyễn Quốc T khai nhận biển số xe máy trên do một người bạn tên Kiệt (không rõ lai lịch) đưa cho Tấn, sau đó Tấn để tại nhà địa chỉ số 145/12A đường Y, khu phố B, phường T, quận Q, sau đó Tấn không sử dụng, không rõ nguồn gốc.
+ 01 (Một) nón bảo hiểm màu đen hiệu Asia, một áo sơ mi màu hồng dài tay, một quần tây màu đen do T giao nộp là trang phục Tấn mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
+ 01 (Một) USB chứa dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ án.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng số vật chứng nêu trên theo Phiếu nhập kho số 97/PNK ngày 25/6/2021 (BL: 241).
Hồ Long H còn có hành vi dán hình ảnh bản thân vào một chứng minh nhân dân tên Hồ Ngọc H để xuất trình với chủ nhà trọ, đăng ký dấu vân tay của Hồ Long H. Tuy nhiên qua làm việc Hải khai nhận sau khi sử dụng đã làm rớt mất giấy chứng minh nhân dân nêu trên nên không thu giữ được. Qua xác minh xác định đương sự Hồ Ngọc H(sinh năm: 1993) có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Cà Dâm, xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nhưng không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì nên không tiếp xúc ghi lời khai làm rõ về chứng minh nhân dân nêu trên. Do không thu giữ được bản chính giấy chứng minh nhân dân nêu trên, không có căn cứ giám định tài liệu nên không đủ cơ sở xử lý Hồ Long H về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức”.
Tại bản cáo trạng số 145/Ctr-VKS, ngày 06/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T và Hồ Long H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc T, Hồ Long H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khỏan 1 Điều 173, khỏan 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Hồ Long H 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
- Buộc bị cáo Hồ Long H và bị cáo Nguyễn Quốc T có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Võ Thị Tuyết M số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng.
- Buộc bị cáo Hồ Long H phải nộp lại số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64, số máy: HC12E-2650149,số khung: RLHHC1206BY053805
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) biển số xe máy 59Y3-567.37; 01 (Một) nón bảo hiểm màu đen hiệu Asia, một áo sơ mi màu hồng dài tay, một quần tây màu đen
- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 (Một) USB chứa dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ án
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản các bị cáo trộm cắp có giá trị giá 27.800.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Quốc T, Hồ Long H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, các bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy các bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Xét, đây là vụ án có đồng phạm và thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Hồ Long H là người đề xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Quốc T cùng thực hiện hành vi phạm tội nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc mức án tương xứng với vai trò của từng bị cáo.
Bị cáo Hải đã từng bị xử phạt về hành vi cướp giật tài sản. Tuy đã xóa án, nay lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo không hề ăn năn hối cải, bị cáo là người đề xướng rủ rê bị cáo Tấn cùng thực hiện hành vi phạm tội nên mức án của bị cáo Hải phải cao hơn bị cáo Tấn.
Xét, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo các bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 khoản Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Riêng bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi xảy ra sự việc bị cáo tự nguyện ra đầu thú nên áp dụng thêm cho bị cáo điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tấn.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với hành vi của Hồ Long H dán hình ảnh bản thân vào một chứng minh nhân dân tên Hồ Ngọc Hđể xuất trình với chủ nhà trọ, đăng ký dấu vân tay của Hồ Long H. Theo lời khai của Hải, sau khi sử dụng đã làm rớt mất giấy chứng minh nhân dân nêu trên nên không thu giữ được. Qua xác minh xác định đương sự Hồ Ngọc H(sinh năm: 1993) có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Cà Dâm, xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nhưng không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì nên không tiếp xúc ghi lời khai làm rõ về chứng minh nhân dân nêu trên. Do không thu giữ được bản chính giấy chứng minh nhân dân nêu trên, không có căn cứ giám định tài liệu nên không đủ cơ sở xử lý Hồ Long H về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức”. Khi nào làm rõ các thông tin liên quan đến bản chính giấy chứng minh nhân dân nêu trên sẽ được điều tra và xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại chị Đặng Duy Tú Nh vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chị Nh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chị Võ Thị Tuyết M, theo lời khai chị đã mua lại xe máy Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64 của anh Lê Trọng H với giá 11.500.000 đồng, có làm giấy mua bán cho tặng xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Sau đó chị Võ Thị Tuyết M là người quản lý, sử dụng xe máy trên. Chị M cùng mẹ khi mua xe không kiểm tra số máy, số khung của xe nên không rõ số máy, số khung có bị thay đổi hay không, sau đó chiếc xe bị mất. Do chiếc xe đã bị đục số khung số máy, không rõ nguồn gốc nên chị không được nhận lại chiếc xe. Nay chị M yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 7.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường số tiền trên cho chị M (theo phần mỗi bị cáo bồi thường 3.500.000 đồng). Xét, việc thỏa thuận trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với chị Phạm Thị Phương L , là người cầm chiếc xe máy Honda Vision của bị cáo H với số tiền 6.000.000 đồng, khi cầm xe chị L không biết là tài sản do phạm tội mà có. Sau khi biết sự việc chị L tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Đối với số tiền 6.000.000 đồng chị L xác định cho luôn bị cáo Hải không yêu cầu bị cáo trả lại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 6.000.000 đồng là tiền cầm chiếc xe cho chị L từ tài sản chiếm đoạt, bị cáo H xác định đã tiêu xài hết. Xét đây là số tiền thu lợi bất chính nên buộc bị cáo Hải phải nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
+ 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision biển số 81N1-199.65, số máy: JF86E5198881, số khung: RLHJF5820LZ013501 là tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt. Qua xác minh chiếc xe trên do chị Đặng Duy Tú Nh đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe trên cho chị Đặng Duy Tú Nh, chị Nh đã nhận lại xe máy để sử dụng và không có yêu cầu gì khác. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.
+ 01 (Một) xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64, số máy: HC12E-2650149, số khung: RLHHC1206BY053805 là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án. Qua giám định, xác định số khung không bị thay đổi, số máy đã bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy. Qua xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông Công an quận Gò Vấp, xe máy có biển số nêu trên do Lê Trọng H đứng tên chủ xe. Qua làm việc với chị Võ Thị Tuyết M và bà Trần Thị Kim Vân xác định vào tháng 01/2017 đã mua lại xe máy nêu trên của anh Lê Trọng H với giá 11.500.000 đồng, có làm giấy mua bán cho tặng xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Sau đó chị Võ Thị Tuyết M là người quản lý, sử dụng xe máy trên. Chị Mai cùng mẹ khi mua xe không kiểm tra số máy, số khung của xe nên không rõ số máy, số khung có bị thay đổi hay không. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ghi lời khai chủ đăng ký xe là anh Lê Trọng H làm rõ nguồn gốc và tình trạng xe tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Xét, chiếc xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64 có số máy bị mài đục số, không rõ nguồn gốc xe, không thể xác định được chủ sở hữu thực sự nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ 01 (Một) biển số xe máy 59Y3-567.37. Qua giám định, xác định là biển số giả. Nguyễn Quốc T khai nhận biển số xe máy trên do một người bạn tên Kiệt (không rõ lai lịch) đưa cho T, sau đó T để lại tại nhà. Xét, chiếc biển số xe không rõ nguồn gốc không có giá trị nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (Một) nón bảo hiểm màu đen hiệu Asia, một áo sơ mi màu hồng dài tay, một quần tây màu đen do T giao nộp là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét, các tài sản trên không có giá trị sử dụng, các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (Một) USB chứa dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ án. Xét, đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Long H, bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Long H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2021
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 01/5//2021
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Buộc bị cáo Hồ Long H và bị cáo Nguyễn Quốc T có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Võ Thị Tuyết M số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường theo phần số tiền là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng cho chị Võ Thị Tuyết M.
- Buộc bị cáo Hồ Long H phải nộp lại số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thực hiện bồi thường cho người bị hại số tiền nói trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe máy hiệu Wave Alpha màu đen bạc, biển số 63B2- 032.64, số máy: HC12E-2650149,số khung: RLHHC1206BY053805
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) biển số xe máy 59Y3-567.37; 01 (Một) nón bảo hiểm màu đen hiệu Asia, một áo sơ mi màu hồng dài tay, một quần tây màu đen
- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 (Một) USB chứa dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ án
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 97/PNK ngày 25/6/2021 của Công an quận Gò Vấp
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Mỗi bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Thị Hương |