vanban.org

Bản án 135/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 27/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Hu (Cu Đen) phạm tội "Cố ý gây Xử phạt: Nguyễn Minh Hu (Cu Đen): 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Hu (Cu Đen) phạm tội "Cố ý gây thương tích"; - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
  • Tòa quyết gì? 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 135/2021/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Châu Hùng;

Ông Huỳnh Văn Tâm.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố X, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Trần Chí Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2021/TLST-HS ngày 08 tháng

11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2021/QĐXXST-HS

ngày 15/11/2021 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 37/TB-TA ngày

26/11/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Hu (Cu Đen), sinh năm 1999, nơi sinh: X – An Giang; nơi

cư trú: Tổ 17, ấp Vk, xã T, thành phố X, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không;

trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo

Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 và bà

Trương Thị Tuyết M, sinh năm 1978; chưa có vợ con.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân: Ngày 09/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố X xử phạt 03

năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đang chấp hành án.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại tạm giam – Công an tỉnh An Giang có

mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn KIL, sinh năm 1980, nơi cư trú: Tổ 15, ấp Vk,

xã T, thành phố X, tỉnh An Giang; có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Trần Văn HiK, sinh năm 1977; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1947; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 05/4/2021 Nguyễn Minh Hu cùng 02 người bạn tên

Nam, Toàn (không rõ lai lịch) đến hầm nuôi cá của Trần Văn HiK thuộc tổ 17, ấp Vk, xã T, thành phố X câu trộm cá; phát hiện nên HiK và Nguyễn Văn KIL đến không cho câu; Hu, Nam, Tòan bỏ đi; Hu nhặt 01 cây dao trên bờ hầm mang theo người; còn KIL chạy xe mô tô chở HiK về nhà, sau khi chở HiK về nhà thì KIL chạy xe đi mua thuốc, trên đường đi gặp Hu, Nam, Toàn; KIL dừng xe nói chuyện, cự cãi với Hu; tức giận, Hu dùng dao chém KIL 02 nhát trúng cánh tay và cẳng tay phải gây thương tích; được Nam, Toàn can ngăn, cả 03 tiếp tục đi về; đến cầu Kênh số 1 thuộc tổ 17, ấp Vk, xã T Hu ném bỏ dao; riêng KIL được đưa đi cấp cứu, điều trị, có đơn yêu cầu khởi tố.

Vật chứng: Không thu giữ được.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 208/21/TgT ngày

07/5/2021 của Trung Tâm Pháp y, Sở Y tế An Giang xác định:

Nguyễn Văn KIL có những thương tích sau: Sẹo mặt trước ngoài 1/3 giữa

cánh tay phải 10 x 0.2 cm, bờ sắc gọn, hơi lồi. Sẹo mặt ngoài sau 1/3 giữa cẳng tay phải, kích thước 07 x 0.2 cm, sắc gọn, hơi lõm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%; thương tích do vật sắc gây nên.

Ngày 10/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố X khởi tố

Nguyễn Minh Hu về tội “Cố ý gay thương tích”.

Tại Cáo trạng số 124/CT-VKSCĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm

sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Minh Hu về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Tại phiên tòa bị cáo khai, bị cáo và ông KIL ở cùng xóm không có mâu thuẫn, khi bị cáo cùng Nam, Toàn câu cá không được, bỏ đi về thì ông KIL chạy xe chửi bị cáo nên bị cáo dùng dao dài khoảng 30cm, cán bằng gỗ tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, sắc bén một cạnh chém ông KIL 02 nhát; dao bị cáo nhặt được trên bờ hầm và đã bỏ sau khi gây thương tích. Nam, Toàn không có gây thương tích cho ông KIL mà chỉ can ngăn bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định pháp y về thương tích của ông KIL 4%.

- Bị hại khai, bị cáo và bị hại cùng xóm không có mâu thuẫn, xác định bị

cáo Hu là người chém bị hại hai 02 nhát, 02 người thanh niên đi chung với bị

cáo chỉ can ngăn, không cùng với bị cáo gấy thương tích cho bị hại. Bị hại

không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe, xin giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự cho bị cáo.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên

tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài

liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo về tội

“Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm

2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên giữ nguyên nội

dung Cáo trạng đã truy tố.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai

báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người bị hại cũng

có một phần lỗi (chửi bị cáo). Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi

lượng hình.

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134;

điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử

phạt bị cáo Nguyễn Minh Hu từ: 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù.

Bị cáo đang chấp hành Bản án số 62/2021/HS-ST ngày 09/9/2021 của Tòa

án nhân dân thành phố X với mức án 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp

hình phạt chung để bị cáo chấp hành.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không

đề cập xem xét trong vụ án.

Bị cáo Nguyễn Minh Hu không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trường hợp Nguyễn Minh Hu cùng 02 người tên Nam, Toàn (không rõ lai

lịch) đến hầm nuôi cá của Trần Văn HiK để câu trộm, nhưng chưa câu được, bị

phát hiện bỏ đi, không đủ căn cứ để xử lý; tuy nhiên cũng cần công khai giáo

dục tại phiên tòa. Riêng 02 người tên Nam, Toàn đi chung với bị cáo Nguyễn

Minh Hu nhưng không tham gia cùng với Hu gây thương tích cho Nguyễn Văn

KIL nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố X không đề nghị xử lý

là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng,

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành

vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và

người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng

người làm chứng vắng mặt. Xét, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về nội dung,

Về hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên

tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các nguồn chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ chứng cứ trên, có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi dùng dao dài

khoảng 30cm, cán bằng gỗ (tròn), lưỡi dao bằng kim loại màu đen, sắc bén một cạnh là hung khí nguy hiểm có khả năng gây sát thương cao, gây thương tích cho bị hại với tỉ lệ thương tật là 04%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố các bị

cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Quyền được an toàn về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của

công dân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Người nào xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt. Hành vi của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, hoang mang trong nhân dân, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy

tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo; hành vi phạm

phạm tội của bị cáo vào 05/4/2021 được xem là phạm tội lần đầu và thuộc

trường hợp ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của bị

hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng

xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng

hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung

năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Hu (Cu Đen) phạm tội "Cố ý gây

thương

tích";

Xử phạt: Nguyễn Minh Hu (Cu Đen): 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của Bản án số

62/2021/HS-ST ngày 09/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố X.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh Hu (Cu Đen) chấp hành hình phạt chung của 02

bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Minh Hu (Cu Đen)

được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam 19/6/2021 (Mười chín, tháng sáu, năm hai

nghìn không tram hai mươi mốt).

2. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Minh Hu phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo

để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ