vanban.org

Bản án 135/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm a, b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm a, b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2019/HSPT
Ngày: 26/9/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Liên.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Ông Trần Khánh Hồng

Thư ký phiên tòa: Diệp Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 85/2019/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1968, tại: Sông Công – Thái Nguyên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố CG, phường BQ, thành phố SC, tỉnh TN. Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C và bà: Trần Thị H; bị cáo có vợ là: Lục Thị H1, sinh năm 1973, có 02 con Con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).

*Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Đức H2- luật sư văn phòng luật sư Quyết Thắng thuộc đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

*Người bị hại (không kháng cáo): Ông Bùi Viết V1, sinh năm 1963

Trú tại: Tổ 8, phường TT, thành phố TN, tỉnh TN. (có mặt)

*Người làm chứng:

1. Chị Lục Thị H1, sinh năm 1973 (Có mặt)

Trú tại: Tổ dân phố CG, phường BQ, thành phố SC, tỉnh TN.

2. Cháu Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 2000. (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố CG, phường BQ, thành phố SC, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/7/2018, Nguyễn Văn T sau khi đi uống bia tại phường Lương Sơn về nhà, không thấy chị Lục Thị H1 là vợ mình đâu, bị cáo hỏi thì được cháu Nguyễn Thị Cẩm L là con gái T cho biết chị H1 cùng với ông Bùi Viết V1 đi vào xưởng gỗ, thấy cháu L nói vậy T đi xe môtô đến xưởng gỗ của gia đình mình ở tổ dân phố CG, phường BQ, thành phố SC (cách nhà T ở khoảng 700m). Khi đến nơi, thấy cổng vào xưởng khóa nên T lấy chìa khóa mang theo mở cổng rồi đi xe vào để ở sân của nhà làm mộc thì thấy cửa chính gian giữa đang mở, trong nhà bật điện sáng, T đi vào cửa thì thấy chị H1 đang ngồi ở ghế cạnh bàn uống nước đặt giữa gian phòng, còn ông V1 đang đứng ở giữa nhà. T nói “chúng mày vào đây làm gì” thì ông V1 nói “chú cứ bình tĩnh, anh không phải như chú nghĩ đâu”, T tiếp tục bảo “nếu không có gì thì sao anh không gọi điện thoại cho tôi” rồi T quay sang hỏi chị H1 “tại sao không gọi điện cho tôi”, chị H1 nói “em đưa anh V1 vào xưởng lấy mấy bộ quần áo thôi chứ không có gì đâu”. Ngay lúc này T dùng tay đấm hai nhát vào mặt chị H1, thấy vậy ông V1 lao về phía T, vít cổ T xuống và dùng tay đấm T ba, bốn cái vào phía sau đầu, rồi buông tay ra và chạy ra phía sân nhặt một thanh gỗ có kích thước dài khoảng 02m, rộng 11,5cm để đánh nhau với T, ông V1 dùng thanh gỗ thục vào mạng sườn T, do bị ông V1 đánh, T chạy vào nhà lấy 1 con dao dùng dao chém về phía ông V1 nhưng không trúng, ông V1 dùng thanh gỗ đánh trả trúng vào người T ,T liền dùng dao đâm một nhát vào vùng bụng bên trái và chém một nhát vào đùi phải của ông V1, thấy ông V1 bị Thương T vứt dao xuống sân và lấy xe môtô chở ông V1 đến bệnh viện C Thái Nguyên cấp cứu rồi đến Công an phường BQ trình báo lại toàn bộ nội dung sự việc

Ngày 24/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố SC trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể ông Bùi Viết V1 do thương tích gây ra. Tại bản kết luận số 395/TgT ngày 26/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 34%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật sắc nhọn gây nên.

Ngày 10/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố SC trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể bị cáo T do thương tích gây ra và xác định cơ chế hình thành các vết thương. Tại bản kết luận số 471/TgT ngày 11/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Hiện tại có 01 vết thâm mờ nhỏ vùng bả vai trái, không để lại sẹo; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 0%; Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: ngày 01/9/2018, bị cáo T đã thỏa thuận bồi thường xong cho người bị hại Bùi Viết V1 số tiền 100.000.000 đồng, ông V1 đã viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Về vật chứng của vụ án: 01 thanh gỗ kích thước (190 x 11,5)cm; 01 thanh gỗ kích thước (70 x 12)cm; mảnh vỡ thủy tinh và mảnh sứ bị vỡ; 01 con dao dài 87cm, bản lưỡi rộng nhất 4,5cm, phần chuôi dài 23cm và 01 hộp bao bằng gỗ (loại vỏ bao dao, kiếm) dài 65cm, phần rộng nhất 6,5cm niêm phong trong bì ký hiệu D; 01 mẫu máu thu trên sân của xưởng gỗ niêm phong ký hiệu A và mẫu máu của ông Bùi Viết V1 còn lại sau giám định được chuyển, bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận, bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa thuận bồi thường xong cho người bị hại Bùi Viết V1 số tiền là 100.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07/6/2019 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo đề nghị xem xét lại về tội danh, bị cáo xác định không phạm tội “Cố ý gây thương tích” mà là “Cố ý gây thương tích trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, bị cáo xin giảm nhẹ mức án và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ mức án và cho bị cáo được hưởng án treo.

Phần kết luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, các nội dung liên quan đến kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, bị cáo đã ý thức được việc mình làm, ăn năn hối cải, khai nhận hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đưa người bị hại đi cấp cứu tại bệnh viện C Thái Nguyên và tự giác ra đến công an phường trình báo nội dung sự việc. Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại 100.000.000đ. Sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại, tại phiên tòa hôm nay người bị hại thừa nhận có lỗi vì vậy xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào từ đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo không tranh tụng gì, nhất trí với lời bào chữa của luật sư. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Ngày 06/7/2018, Nguyễn Văn T sau khi đi uống bia tại phường LS về nhà, bị cáo không thấy chị Lục Thị H1 là vợ của bị cáo ở nhà. Bị cáo hỏi con là Nguyễn Thị Cẩm L là mẹ đi đâu thì cháu L trả lời: Mẹ đi cùng bác V1 vào xưởng gỗ. Bị cáo đi xe mô tô đến xưởng gỗ của nhà bị cáo thì thấy cổng ngoài khóa, bị cáo mở cổng đi vào sân dựng xe và vào trong nhà thì thấy vợ ngồi ở ghế còn anh V1 thì đứng ở giữa nhà. Bị cáo có hỏi anh V1 đến xưởng làm gì thì vợ bị cáo nói là anh V1 đến lấy quần áo, bị cáo và vợ cãi nhau bị cáo tát vợ hai cái, khi thấy bị cáo tát vợ thì anh V1 lao vào túm cổ đấm vào mang tai bị cáo rồi vít cổ bị cáo dúi đầu xuống ghế, bị cáo giằng được ra và kêu to bị đánh, bị cáo đuổi anh V1 về thì anh V1 chạy ra ngoài sân dùng một gậy gỗ thục một nhát vào mạng sườn bị cáo, do bị đấm và bị đánh đau bị cáo chạy vào nhà lấy một con dao quay ra thì anh V1 dùng gậy gỗ tiếp tục đánh bị cáo, bị cáo đâm một nhát vào đùi anh V1. Khi đó anh V1 vẫn dùng đoạn gỗ dài đánh bị cáo thì bị cáo đâm một nhát trúng vào bụng anh V1, thấy anh V1 bị thương bị cáo nâng anh V1 dậy và dùng xe máy đưa anh V1 đến bệnh viện cấp cứu sau đó về công an trình báo toàn bộ sự việc.

Tại bản kết luận số 471/TgT ngày 11/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của bị cáo là: 0%; Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày.

Tại bản kết luận số 395/TgT ngày 26/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh Bùi Viết V1 là 34%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật sắc nhọn gây nên.

Như vậy với hành vi trên Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã chủ động đưa người bị hại đi bệnh viện cấp cứu tại bệnh viện C Thái Nguyên do đó đã làm giảm bớt hậu quả xảy ra, sau đó bị cáo đã đến công an phường tự thú khai báo sự việc, trong vụ án bị hại là người có lỗi đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc làm mộc ổn định. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Tại phiên tòa, người bị hại ông V1 cũng thừa nhận ông V1 là người có lỗi và ông tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét trong vụ án cụ thể này, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử giảm hình phạt và không cần cách ly xã hội đối với bị cáo, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở T người công dân tốt, thể hiện tính khoan hồng trong pháp luật Nhà nước ta.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xét lại.

Đề nghị của Viện kiểm sát và của luật sư tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

1. Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm a, b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T về Ủy ban nhân dân phường BQ, thành phố SC, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí. Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh; Sở TP;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP Sông Công;

- VKSND TP Sông Công;

- Công an TP Sông Công;

- Chi cục THADS TP Sông Công;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Dương Thị Liên T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Phương – Trần Khánh Hồng

Dương Thị Liên

Cỡ chữ